Kết quả nghiên cứu

...02/05/2019 lúc 12:05 (GMT)

Định hướng hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh

TCCTPGS.TS. TRẦN VĂN TÙNG (Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH)) và LÊ VĂN LƯỢM (Trường Đại học Trà Vinh)

TÓM TẮT:

Thực hiện chủ trương đổi mới, hầu hết các cơ sở y tế trong nước đã và đang chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trong bài viết này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định như khảo sát, thống kê mô tả, phân tích, nội suy nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh (BVĐK Trà Vinh), trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác của toán của bệnh viện.

Từ khóa: Kế toán, tổ chức công tác kế toán, bệnh viện đa khoa, Trà Vinh.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới, phát triển để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là nhiệm vụ và trọng trách vô cùng to lớn của ngành Y tế. Xác định mục tiêu đó, ngành Y tế phấn đấu luôn đảm bảo công bằng, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, trong đó việc phát triển và hoạt động có hiệu quả đối với các BV đặc biệt là hệ thống các BV công lập đã và đang là một vấn đề được quan tâm đặc biệt của ngành Y tế.

Nằm trong hệ thống bệnh viện (BV) công lập của cả nước, những năm qua Bệnh viên Đa khoa tỉnh Trà Vinh đã chủ động cơ cấu lại bộ máy tổ chức, tăng cường công tác quản lý trong đó chú trọng đến nâng cao vai trò của công tác kế toán. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy công tác kế toán ở đơn vị còn nhiều bất cập khi chuyển đổi sang cơ chế tài chính mới. Công tác kế toán chưa đáp ứng được hết nhu cầu quản lý. Vì vậy, đặt ra yêu cầu cần có giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tại BV.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của cam kết tổ chức đối với chất lượng của hệ thống thông tin kế toán” của Syaifulla (2014), bằng phương pháp nghiên cứu định lượng tác giả đã xác định rằng yếu tố cam kết của ban quản trị và yếu tố cam kết của nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến chất lượng của việc tổ chức công tác kế toán của một tổ chức.

Năm 2010, tác giả Salah A. Hammad và các cộng sự thực hiện nghiên cứu “Hệ thống kế toán quản lý BV: khung nghiên cứu”. Năm 2016, hai tác giả Nathan Carroll và Justin C. Lord với đề tài “Tầm quan trọng ngày càng tăng của kế toán chi phí cho BV”. Trong các nghiên cứu này, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, các tác giả đề xuất nâng cao hiệu quả của hệ thống kế toán quản lý trên cơ sở sử dụng phương pháp kế toán hợp lý nhằm năng cao hiệu quả quản lý trong ngành Y tế nói chung và cho các BV nói riêng. 

Tại Việt Nam, những năm qua trong lĩnh vực y tế đã có một số nghiên cứu được công bố có liên quan đến tổ chức kế toán trong lĩnh vực y tế. Nghiên cứu “Tổ chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế với việc tăng cường quản lý tài chính ngành y tế Việt Nam” của tác giả Lê Kim Ngọc (2009). Nghiên cứu của tác giả Đoàn Nguyên Hồng (2010) với đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BV Hữu nghị Việt Nam - CuBa Đồng Hới”; hoặc tác giả Lê Thị Thúy Hằng (2017) thực hiện nghiên cứu “Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Ninh Bình”. Kết quả các nghiên cứu khẳng định công tác quản lý tài chính và tổ chức công tác kế toán của đơn vị có mối quan hệ mật thiết với nhau, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ giúp cung cấp tốt về thông tin cho công tác quản lý tài chính của đơn vị. Mặt khác, công tác kế toán của các đơn vị ngành Y tế hiện tại còn nhiều bất cập, do vậy việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của các đơn vị là cần thiết như nâng cao trình độ nhân viên kế toán; áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực này…

2.2. Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp

Theo Nathan Carroll và Justin C. Lord (2016), tổ chức công tác kế toán là tổ chức thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình sử dụng tài sản, kinh phí của đơn vị, nhằm phục vụ công tác quản lý tài chính và công tác nghiệp vụ ở đơn vị đó. Việc tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ có tác dụng tích cực như: (1) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác cho hoạt động quản lý nói chung; (2) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ tạo dựng được bộ máy kế toán gọn nhẹ mà hiệu quả, qua đó giúp làm việc hiệu quả hơn, trôi chảy và đồng bộ hơn ở nhiều bộ phận; thời gian hạch toán và thanh quyết toán đáp ứng kịp thời với quy định chung; (3) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ là cơ sở quan trọng để quản lý tài chính hiệu quả.

Theo Thông tư số 107/2017/TT - BTC của Bộ Tài chính, nội dung tổ chức công tác kế toán trong một đơn vị hành chính sự nghiệp bao gồm:

Thứ nhất, công tác lập và chấp hành dự toán thu, chi.

Lập dự toán đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên. Lập dự toán thu, chi phí theo pháp luật về phí, lệ phí, các nhiệm vụ không thường xuyên theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Căn cứ vào dự toán thu, chi do đơn vị sự nghiệp công xây dựng, cơ quan quản lý cấp trên có trách nhiệm xem xét, tổng hợp dự toán thu, chi của đơn vị gửi cơ quan tài chính và cơ quan có liên quan theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Việc phân bổ và giao dự toán của cơ quan quản lý cấp trên cho đơn vị sự nghiệp công cũng như đơn vị này chấp hành dự toán thu, chi được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Thứ hai, công tác kế toán theo quá trình xử lý thông tin, bao gồm: vận dụng hệ thống chứng từ kế toán; vận dụng hệ thống tài khoản kế toán; vận dụng hệ thống sổ kế toán và vận dụng hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán.

Thứ ba, công tác kiểm tra kế toán và công khai tài chính.

Trong mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp, thủ trưởng và kế toán trưởng đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra công việc kế toán trong đơn vị mình theo đúng qui định của chế độ kiểm tra kế toán. Công khai tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định tại Thông tư số 61/2017/TT-BTC ngày 15 tháng 06 năm 2017 hướng dẫn về công khai ngân sách đối vơi đơn vị dự toán ngân sách, tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ. Các nội dung công khai tài chính bao gồm: (1) Công khai kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ; (2) Công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hỗ trợ (quý, 6 tháng, năm); (3) Công khai quyết toán ngân sách nhà nước hỗ trợ.

3. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu định tính như khảo sát, thống kê mô tả, phân tích và nội suy nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán của BV, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của BV. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp bao gồm tài liệu phản ảnh về tổ chức bộ máy kế toán; tổ chức hệ thống thông tin kế toán của BV và dữ liệu sơ cấp thông qua việc khảo sát thông qua Phiếu khảo sát gồm: Thông tin chung và thực trạng công tác kế toán tại BV. Tác giả gửi phiếu khảo sát đến các bộ phận kế toán có liên quan của Phòng Tài chính - Kế toán của BV và Ban Giám đốc BV (Tổng cộng khảo sát 37 đối tượng).

Thông tin thu thập được tác giả tiến hành tổng hợp ý kiến trả lời của các đối tượng nghiên cứu bằng cách thống kê mô tả các câu trả lời của các đối tượng tính phần trăm các câu trả lời với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 18.0.

4. Thực trạng tổ chức công tác kế toán của BVĐK Trà Vinh

4.1. Thực trạng tổ chức nhân lực và trang bị phần mềm kế toán

Trong công tác quản lý tài chính của đơn vị trong đó đơn vị 100% tự đảm bảo chi thường xuyên. Đơn vị đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ. Bắt đầu từ ngày 1/1/2018 đơn vị áp dụng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT - BTC ngày 10/10/2017 (giai đoạn trước áp dụng Quyết định số 19/2006/QĐ - BTC ngày 30/03/2006). Trong đó, mô hình tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị vừa tập trung vừa phân tán.

Kết quả từ Bảng 1 cho thấy bộ phận kế toán của BV luôn đáp ứng tốt cho công việc mà lãnh đạo giao trong đó có 62,2% đáp ứng rất tốt và 37,8% đáp ứng tốt. Các công việc được phân công cho các nhân viên bộ phận kế toán của đơn vị có 2,7% chưa phù hợp với cá nhân.

Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán của BV, hiện tại đơn vị chưa tổ chức phân tích tình hình tài chính kế toán của BV. Phần mềm hỗ trợ trong công tác kế toán của đơn vị là Misa 2019 và Excel. Khảo sát mức độ nhân viên đồng ý trang bị phần mềm kế toán misa cho thấy mức độ đồng ý của nhân viên trong việc sử dụng phần mềm quản lý tài chính Misa của nhân viên BV chưa cao mức độ rất không đồng ý chiếm đến 37,8%.

Mức độ hài lòng với tổ chức công tác kế toán hiện tại của Bệnh viện đa khoa Trà Vinh.

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hài lòng với tổ chức công tác kế toán của BVĐK Trà Vinh, trong đó mức độ hài lòng đạt 73% và rất không hài lòng là 8,1% chiếm tỷ lệ cao. Số lượng chưa hài lòng chỉ chiếm tỷ lệ thấp dưới 10% cụ thể rất không hài lòng là 8,1%.

4.2. Kết quả khảo sát thực trạng công tác kế toán tại BV Đa khoa Trà Vinh giai đoạn 2013 - 2017

4.2.1. Công tác lập và chấp hành dự toán thu chi

Kết quả từ Bảng 2 cho thấy: Trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2017, nguồn thu thực tế so với dự toán thu hằng năm BV luôn đạt mức dự toán. Đặc biệt là nguồn thu từ BHYT vượt dự toán thu từ  14 - 54%. Có thể thấy, BVĐK Trà Vinh đã và đang thực hiện tự chủ tài chính nên nguồn thu từ BHYT tăng, các nguồn thu từ NSNN giảm. 

4.2.2. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán

* Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính liên quan đến hoạt động của đơn vị đều được phản ánh trên các chứng từ kế toán. Kế toán căn cứ vào đặc điểm tình hình hoạt động của đơn vị và tính chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh để lựa chọn hệ thống chứng từ cho phù hợp. Từ năm 2017, hệ thống chứng từ kế toán áp dụng tại BVĐK tỉnh Trà Vinh được quy định Thông tư số 107/2017/TT - BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính. Trong quá trình sử dụng, BV sử dụng hầu như toàn bộ và có một số điều chỉnh cho phù hợp với BV. Còn đối với mẫu chứng từ kế toán thuộc loại hướng dẫn thì ngoài các nội dung quy định trên mẫu biểu, đơn vị kế toán có thể bổ sung thêm chỉ tiêu hay thay đổi hình thức mẫu biểu cho phù hợp với việc ghi chép và yêu cầu quản lý của BV.

* Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

Hiện nay, BVĐK Trà Vinh đang áp dụng hệ thống TK đơn vị hành chính sự nghiệp do Bộ Tài chính ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT - BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính bao gồm 10 loại từ 1 đến 9 là các TK trong bảng cân đối TK và loại 0 là các TK ngoài bảng cân đối TK. Theo yêu cầu của công tác quản lý tài chính BV đã mở thêm một số TK cấp 2, cấp 3, để theo dõi và phục vụ cho công tác báo cáo.

* Vận dụng hệ thống sổ kế toán

BVĐK tỉnh Trà Vinh đang sử dụng hình thức chứng từ ghi sổ kế toán với hình thức nhật ký - Sổ cái. Việc vận dụng sổ kế toán đảm bảo việc cung cấp thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý. BV đã ghi sổ kế toán bằng máy theo phần mềm kế toán Misa 2019. Hầu hết các loại sổ sách đều được thực hiện qua phần mềm, vì thế qua việc nhập số liệu từ chứng từ gốc, máy vi tính sẽ tự kết xuất số liệu vào các sổ có liên quan, do đó giảm nhẹ được khối lượng cho nhân viên kế toán, khi cần có thể in sổ sách rất dễ dàng, thuận lợi.

* Vận dụng hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán

Hiện tại BVĐK Trà Vinh đã vận dụng hệ thống báo cáo tài chính theo quý và báo cáo năm theo quy định của Bộ Tài chính ban hành theo Quyết định số 19/2006/QĐ - BTC ngày 30/3/2006 và từ quý 1/2018 áp dụng theo quy định tại Thông tư số 107/2017/TT - BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính. Ngoài hệ thống báo cáo tài chính bắt buộc trên hệ thống báo cáo của đơn vị còn có một số báo cáo khác phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát như: báo cáo tồn quỹ, báo cáo kiểm tra tài sản, vật tư tiêu hao... Báo cáo tài chính cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị.

4.2.3. Công tác kiểm tra kế toán và công khai tài chính

Trong những năm qua BV đã thành lập tổ kiểm tra gồm những thành viên của phòng Tài chính - Kế toán dưới sự chỉ đạo của giám đốc BV và kế toán trưởng BV công tác kiểm tra kế toán được thực hiện định kỳ tại BV. BV kiểm tra tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kiểm tra việc lập và luân chuyển chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, mở sổ kế toán, kiểm tra tính trung thực của các thông tin kế toán trên báo cáo tài chính, kiểm tra các khoản thu - chi ngân sách, thu hoạt động của đơn vị, kiểm tra việc trích lập các quỹ, sử dụng quỹ lương, các quan hệ thanh toán, kiểm tra việc trích lập các quỹ, sử dụng quỹ lương, các quan hệ thanh toán, kiểm tra việc quản lý tài chính, vốn bằng tiền.

Thực tế tại BV, việc công khai tài chính được thực hiện hàng năm sau khi có kết quả thẩm tra số liệu quyết toán của Sở Tài chính, BV tiến hành thực hiện công tác công khai tình hình tài chính đơn vị tại Hội nghị công chức viên chức lao động.

5. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán của BVĐK tỉnh Trà Vinh

5.1. Ưu điểm

- Công tác lập chấp hành dự toán và quản lý tài chính tập trung tại phòng Tài chính - Kế toán. BV ban hành đầy đủ quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý, sử dụng các nguồn thu- chi đúng mục đích, phù hợp khả năng, tình hình thực tế, tránh trường hợp lợi dụng gây thất thoát tài chính của đơn vị. Hoàn thiện bộ máy kế toán của BV, trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản, cơ quan tài chính.

- Tổ chức, vận dụng chế độ kế toán bao gồm tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; hệ thống tài khoản kế toán; hệ thống sổ kế toán; hệ thống báo cáo kế toán, việc thực hiện lập báo cáo tài chính đảm bảo tuân thủ theo Thông tư số 107/TT-BTC ban hành ngày 30/3/2016. Hệ thống báo cáo của BV hiện nay được sửa đổi theo hướng đơn giản hơn về biểu mẫu và phương pháp lập tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị trong việc thực hiện công tác quyết toán tài chính ở đơn vị mình. Việc thực hiện công tác công khai tài chính khá tốt đã góp phần đảm bảo tính minh bạch trong vấn đề công bố thông tin, từ đó củng cố niềm tin và nâng cao tinh thần đoàn kết nội bộ.

5.2. Tồn tại

* Về công tác lập chấp hành dự toán trong quản lý tài chính:

Lập chấp hành dự toán và việc thực hiện toán còn chưa đồng bộ, thống nhất giữa kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản cũng như trong kế hoạch trang bị tài sản, trang thiết bị y tế của BV. Mặc khác, BV có hệ thống tiêu chuẩn, định mức chưa đầy đủ, thiếu các hồ sơ tài liệu chứng minh cho một số khoản chi trong dự toán được lập.

* Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ:

Các chứng từ BV đang sử dụng mới  chỉ đáp ứng được yêu cầu quản lý ngân sách và chi tiêu theo dự toán, nhiều chứng từ chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trong đơn vị, chưa chi tiết theo từng nơi phát sinh, phục vụ cho việc hạch toán và lập các báo cáo bộ phận. Ngoài ra việc đảm bảo điều kiện lưu trữ chứng từ chưa tốt và chưa thực sự khoa học dẫn đến những khó khăn trong việc kiểm tra, trích lục lại các chứng từ hoặc lấy lại các chứng từ để sử dụng.

* Về tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán:

BV sử dụng hình thức kế toán Nhật ký sổ cái với việc sử dụng phần mềm kế toán “MISA 2019” do Công ty Misa cung cấp, nhiều kế toán viên chưa hài lòng trong sử dụng phần mềm. Bên cạnh đó, qua kết quả khảo sát, tại BV chưa quan tâm đến việc thiết kế mẫu sổ kế toán chi tiết phù hợp để phục vụ cho công tác kế toán.

* Về tổ chức vân dụng hệ thống báo cáo kế toán:

Mặc dù các báo cáo được lập theo mẫu quy định, tuy nhiên, việc chưa lập bảng thuyết minh và chưa thực sự quan tâm đến mặt chất lượng báo cáo đã ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành hoạt động của BV.

* Về công tác kiểm tra kế toán và công khai tài chính:

Hiện nay, đơn vị chưa có bộ phận riêng chuyên trách nhiệm vụ kiểm tra kế toán. Thực tế việc kiểm tra và đối chiếu giữa các sổ kế toán thường chỉ được thực hiện cuối quý, cuối năm trước khi lập các BCTC, chỉ khi nào có sự việc gì xảy ra thì mới thành lập đoàn thanh tra đi xác minh giải quyết vụ việc. Vì vậy, công tác kiểm tra kế toán không được đảm bảo thường xuyên, kịp thời dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng gây thất thoát ngân sách BV.     

6. Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại BVĐK tỉnh Trà Vinh

- Hoàn thiện công tác lập và chấp hành dự toán

BV cần đảm bảo tính sát thực của công tác dự toán, tạo điều kiện cho các bộ phận sau hoàn thành nhiệm vụ. Mặc khác, việc xác lập dự toán cần căn cứ trên cơ sở nhu cầu thực tế và số liệu của các năm trước của BV đã thực hiện. Đồng thời, phải dựa trên cơ sở các chỉ tiêu môn chuyên môn của các khoa, phòng như: số lượng bệnh nhân sử dụng giường bệnh, số lượng thực hiện các xét nghiệm, định mức tiêu hao hoá chất, vật tư y tế tiêu hao, thuốc thiết yếu...; Các khoản khác như: điện, nước, xăng xe, sửa chữa trang thiết bị, cơ sở vật chất... để dự kiến kinh phí cho năm sau sát với nhu cầu chi tiêu thực tế tại BV. Tránh xảy ra tình trạng bội chi ngân sách của BV.

-  Hoàn thiện việc tổ chức, vận dụng chế độ kế toán

BV cần quan tâm và đầu tư trong việc đào tạo nguồn nhân lực làm công tác kế toán với trình độ ngang tầm với nhiệm vụ đặt ra là đảm bảo tuân thủ theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp hiện hành và cơ chế tài chính mới. Tổ chức, sắp xếp bộ máy làm công tác kế toán theo hướng tinh gọn, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin kế toán.

- Hoàn thiện vận dụng hệ thống chứng từ kế toán

Đối việc lập chứng từ: Hoàn thiện quy định về lập chứng từ kế toán tại BV: cần có các quy định cụ thể về các yếu tố của một chứng từ, đặc biệt yếu tố về chữ ký của những người có thẩm quyền, trách nhiệm đối với hoạt động kinh tế tài chính xảy ra, cách lập và quy trình lập chứng từ. Cần xác định rõ các bộ phận có trách nhiệm lập chứng từ, quy định về thủ tục, phương pháp lập chứng từ. Theo đó, BV cần phải xây dựng được các quy trình phân công nhiệm vụ của từng thành viên trong bộ máy kế toán của BV, cũng như việc phối hợp làm việc giữa các thành viên trong bộ máy và các đơn vị khác của BV.

Công tác kiểm tra chứng từ, Bộ phận kế toán và các bộ phận chức năng của BV có liên quan phải kiểm tra các loại chứng từ kế toán. Việc kiểm tra chứng từ, phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và phải được coi là khâu bắt buộc trong khâu lập và tiếp nhận chứng từ.

 - Hoàn thiện vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

Việc tổ chức hệ thống tài khoản kế toán phải phù hợp với đặc điểm cụ thể của BV là vấn đề cốt lõi của tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập. về cơ bản, hệ thống tài khoản kế toán của BV đáp ứng được các yêu cầu, phản ánh đầy đủ mọi hoạt động kinh tế tài chính phát sinh trong đơn vị, phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu chính sách tài chính. Việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, BV mở thêm một số tài khoản chi tiết đáp ứng yêu cầu quản lý. Như các tài khoản 511 (tài khoản thu), 531 (thu dịch vụ KCB, thu khác), 334 (lương).

- Hoàn thiện vận dụng hệ thống sổ kế toán

Dựa trên các văn bản pháp luật, BV cần tiếp tục hoàn thiện sổ sách kế toán theo yêu cầu thực tế của đơn vị nhưng vẫn đảm bảo cung cấp số liệu kế toán trung thực, chính xác và theo đúng các quy định của pháp luật. Nội dung các sổ sách kế toán khi được lập và in ra cần phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố pháp lý như: điền đầy đủ số trang sổ, ngày mở sổ, ký duyệt đầy đủ, đóng dấu đơn vị và đóng dấu giáp lai vào sổ, nghiêm túc chấp hành nguyên tắc sửa chữa số liệu đã ghi sai trên sổ kế toán theo đúng phương pháp chữa sổ đã có quy định, tránh để tình trạng tẩy xóa, sai sót trên sổ, bảo quản và giữ gìn sổ sách theo đúng quy định Thông tư số 107/2017/TT - BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính.

- Hoàn thiện vận dụng hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán

BV nên lập thêm báo cáo lưu chuyển tiền tệ để có xác định chính xác các luồng tiền ra, vào tại đơn vị. Căn cứ trên báo cáo này, lãnh đạo đơn vị có thể thấy được khả năng chuyển đổi thành tiền, khả năng thanh toán cũng như khả năng tạo ra tiền của đơn vị trong quá trình thực hiện.

- Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán và công khai tài chính

BV cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong nội bộ của BV đặc biệt đối với các khâu, các lĩnh vực của hoạt động tài chính. Nhằm thực hiện tốt và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát, các BV cần tổ chức một bộ phận kiểm tra kế toán chuyên biệt, điều này sẽ tăng tính khách quan đồng thời giúp công tác kiểm tra đạt hiệu quả.

Nhằm nâng cao công khai tài chính cần phải công khai tình hình hoạt động, tình hình tài chính như doanh nghiệp niêm yết, phải thực hiện kiểm toán hàng năm, phải có hội đồng quản trị và có ban kiểm soát tại đơn vị nhằm đảm bảo tính minh bạch trong việc công bố các thông tin kinh tế tài chính của các BV ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đoàn Nguyên Hồng (2010), Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - CuBa Đồng Hới, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.

2. Hồ Thị Như Minh (2014), Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Mắt Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.

3. Lê Kim Ngọc (2009), Tổ chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế với việc tăng cường quản lý tài chính ngành Y tế Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

4. Lê Thị Thúy Hằng (2017), Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ kế toán, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Hà Nội.

5. Leslie G. Eldenburg (2017), "Management Accounting and Control in the Hospital Industry: A Review", Journal of Governmental & Nonprofit Accounting. 6 (1).

6. Nathan Carroll và Justin C. Lord (2016), "The Growing Importance of Cost Accounting for Hospitals”.

7. Salah A. Hammad, Ruzita Jusoh Elaine Yen Nee Oon (2010), "Hệ thống kế toán quản lý BV: Khung nghiên cứu", Quản lý công nghiệp & Hệ thống dữ liệu. 110(5), Pg 752 - 784.

8. M Syaifullah (2014), "Influence Organizational Commitment On The Quality Of Accounting Information System", International Journal of Scientific & Technology Research. 3 (9), Pg 299-305.

SOLUTIONS TO IMPROVE THE EFFECTIVENESS OF TRA VINH PROVINCE GENERAL HOSPITAL’S ORGANIZATION OF ACCOUNTING FUNCTIONS

● Assoc.Prof. Ph.D TRAN VAN TUNG

Ho Chi Minh City University of Technology

LE VAN LUOM

Tra Vinh University

ABSTRACT:

Implementing the policy of innovation, most health facilities in Vietnam have adopted financial autonomy in order to improve their quality and operational efficiency. Research methods including survey, descriptive statistics, analysis and interpolation were used in this study in order to understand and assess the current status of organization of accounting functions at Tra Vinh Province General Hospital. The study also proposed some solutions based on results to improve the effectiveness of the hospital’s organization of accounting functions.

Keywords: Accounting, organization of accounting, general hospital, Tra Vinh.

 

 

Cùng chuyên mục