Hợp tác quốc tế trong bảo tồn, quản lý tài nguyên cá

ThS. NGUYỄN THỊ HÀ - ThS. NGUYỄN THỊ HẠNH (Trường Đại học Luật, Đại học Huế)

TÓM TẮT:                                                          

Hợp tác quốc tế không chỉ là một phương thức tăng cường hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, quản lý tài nguyên cá mà còn là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia. Bài viết tập trung nghiên cứu về nội dung cũng như các phương thức hợp tác quốc tế trong bảo tồn, quản lý tài nguyên cá được quy định trong các công ước quốc tế, qua đó rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam.

Từ khóa: Hợp tác quốc tế, bảo tồn, quản lý tài nguyên cá, hoạt động bảo tồn.

1. Đặt vấn đề

Rất nhiều những vấn đề cấp bách trong hoạt động bảo tồn, quản lý như suy giảm tài nguyên, IUU[1]... không chỉ là câu chuyện của riêng một quốc gia nào và những ảnh hưởng của chúng cũng không phải chỉ ở trong phạm vi một quốc gia hay riêng một khu vực. Mặt khác, xuất phát từ chính những đặc trưng của đối tượng quản lý - tính di chuyển của các đàn cá cũng như không gian mở của biển - nên những vấn đề trong bảo tồn, quản lý không thể giải quyết hiệu quả chỉ bằng nỗ lực của một quốc gia, mà đòi hỏi phải có sự phối hợp trên phạm vi quốc tế.

2. Nội dung hợp tác quốc tế trong bảo tồn, quản lý tài nguyên cá

Hợp tác quốc tế được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế bao gồm một số những nội dung cơ bản sau:

- Trao đổi thông tin.

Trao đổi thông tin giữa các quốc gia được đề cập trong các điều ước quốc tế như một trong những nội dung hàng đầu của hoạt động hợp tác quốc tế. Phạm vi chủ yếu của hoạt động trao đổi thông tin bao gồm:

+ Trao đổi các thông tin nghiên cứu, các số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt, khả năng của nghề cá và các dữ kiện khác liên quan đến việc bảo tồn các loài cá. Đây là nội dung được quy định trong nhiều điều ước quốc tế như Công ước 1982[2], Hiệp định năm 1995[3], Hiệp định về IUU năm 2009… Chẳng hạn, Điều 14 Hiệp định năm 1995 quy định các quốc gia có nghĩa vụ tập hợp và trao đổi các thông tin khoa học, các thông tin chuyên môn và các số liệu thống kê về các đàn cá lưỡng cư và di cư xa, đồng thời đảm bảo tính chính xác và chi tiết của những thông tin này phục vụ cho yêu cầu đánh giá về các đàn cá của các tổ chức quản lý nghề cá khu vực, tiểu khu vực.

+ Trao đổi thông tin về các tàu đánh cá. Chẳng hạn, Điều 16 Hiệp định về IUU năm 2009 quy định, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hiệp định, mỗi quốc gia khi có thể sẽ thiết lập một mạng lưới truyền thông cho phép việc trao đổi trực tiếp thông tin điện tử, trên cơ sở tính đến những yêu cầu về bảo mật, đồng thời các quốc gia nên hợp tác nhằm thiết lập cơ chế trao đổi thông tin, mỗi quốc gia sẽ thành lập một cơ quan đảm nhận trách nhiệm như một điểm liên hệ trao đổi thông tin. Đối với quốc gia mà tàu mang cờ, những thông tin mà quốc gia có cảng cung cấp trong báo cáo điều tra của quốc gia này là cơ sở để quốc gia tàu mang cờ tiến hành điều tra và áp dụng những chế tài thích hợp trong trường hợp con tàu thực hiện hành vi IUU hoặc trợ giúp cho IUU.

- Hợp tác trong xử lý các hành vi vi phạm, đảm bảo thực hiện các quy định về bảo tồn, quản lý tài nguyên cá.

Nội dung các hoạt động hợp tác này thường bao gồm phối hợp trong hoạt động điều tra, cung cấp thông tin về các tàu cá vi phạm,… Chẳng hạn, Điều 20 Hiệp định năm 1995 quy định: “Quốc gia mà tàu mang cờ khi đang tiến hành các hoạt động điều tra đối với một vụ vi phạm các biện pháp bảo tồn, quản lý các đàn cá lưỡng cư và di cư xa có thể yêu cầu sự trợ giúp từ các quốc gia khác. Tất cả các quốc gia sẽ nỗ lực đáp ứng những yêu cầu hợp lý của quốc gia mà tàu treo cờ trong những hoạt động điều tra. Quốc gia tàu mang cờ có thể trực tiếp hoặc hợp tác với những quốc gia khác có lợi ích liên quan hoặc thông qua các tổ chức quản lý nghề cá khu vực để tiến hành điều tra. Các quốc gia sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong việc nhận dạng những tàu cá có hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo tồn”[4]. Đối với những tàu cá thực hiện hành vi IUU hoặc hỗ trợ cho IUU, Hiệp định năm 1993 và Hiệp định về IUU 2009 quy định, khi kết quả của việc kiểm tra của quốc gia có cảng đối với các tàu cá nước ngoài cho thấy một tàu đánh cá đã tham gia thực hiện các hành vi IUU hoặc hỗ trợ cho những hành vi đó, quốc gia sẽ ngay lập tức thông báo cho quốc gia mà tàu đó mang cờ, các quốc gia khác có liên quan, các tổ chức quản lý nghề cá khu vực, các tổ chức quốc tế khác và quốc gia mà thuyền trưởng mang quốc tịch. Quốc gia ven biển khi nhận được thông báo sẽ ngay lập tức điều tra và áp dụng những biện pháp phù hợp với các quy định pháp luật nước mình (Điều 18, 20 Hiệp định IUU 2009; Điều 5 Hiệp định 93).

 - Hỗ trợ xây dựng thể chế, pháp luật cũng như thực hiện những trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển.

 Mục tiêu của những hoạt động này nhằm tăng cường năng lực quản lý của các quốc gia bằng pháp luật và những công cụ hỗ trợ kỹ thuật khác. Việc thực hiện những hoạt động hỗ trợ thường được tiến hành trực tiếp giữa các quốc gia hoặc trong khuôn khổ của các tổ chức quản lý nghề cá. Nội dung hỗ trợ thường bao gồm những khoản trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, bộ máy hoặc chuyển giao công nghệ. Ví dụ, Điều 26 Hiệp định năm 1995 ghi nhận các quốc gia sẽ hợp tác với các nước đang phát triển với những khoản trợ giúp về tài chính, hỗ trợ về phát triển nguồn nhân lực, trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cũng như cung cấp các dịch vụ tư vấn hỗ trợ.

3. Phương thức hợp tác quốc tế trong bảo tồn, quản lý tài nguyên cá

Các hoạt động hợp tác quốc tế được thực hiện thông qua những phương thức chủ yếu sau:

■ Thông qua hoạt động trực tiếp giữa các quốc gia

Hợp tác giữa các quốc gia không chỉ là quyền mà còn được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế như một nghĩa vụ của các quốc gia nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, quản lý tài nguyên cá. Phạm vi hợp tác chủ yếu diễn ra giữa các nước phát triển với các quốc gia đang phát triển cũng như giữa các quốc gia ven biển với nhau. Những hoạt động hợp tác có thể bao gồm trao đổi thông tin, dữ liệu về các tàu cá, các hành vi đánh cá bất hợp pháp; bồi dưỡng và nâng cao năng lực quản lý cho các quốc gia đang phát triển như trao đổi chuyên gia, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực; cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính; hỗ trợ hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như chia sẻ giữa các quốc gia láng giềng một số nội dung của quyền tài phán như quyền truy đuổi...[5]

■ Thông qua các cơ quan nghề cá khu vực (RFBs)

Cơ quan nghề cá khu vực (RFBs) là cơ chế được hình thành trên cơ sở các thỏa thuận quốc tế về nghề cá mà quốc gia hoặc tổ chức quốc tế là thành viên. Năm 1948, Ủy ban nghề cá Ấn Độ - Thái Bình Dương, hiện nay là Ủy ban nghề cá châu Á - Thái Bình Dương, được thành lập theo quyết định của FAO là cơ quan nghề cá khu vực đầu tiên trên thế giới. Từ đó đến nay, rất nhiều những cơ quan khu vực đã được hình thành trong và ngoài khuôn khổ của FAO với số lượng lên tới 44 cơ quan, trong đó 20 cơ quan là các Tổ chức quản lý nghề cá khu vực.

 Nhiệm vụ của các RFBs không giống nhau. Một số RFBs chỉ có nhiệm vụ tư vấn và đưa ra những lời tư vấn, quyết định hoặc các cơ chế phối hợp và không có giá trị bắt buộc với các thành viên. Một số RFBs khác lại có nhiệm vụ quản lý, được gọi với tên là Tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMOs). Các tổ chức quản lý nghề cá khu vực sẽ thông qua các biện pháp bảo tồn và quản lý tài nguyên cá, những biện pháp này là bắt buộc với các thành viên của tổ chức đó.

Chức năng của các RFBs cũng rất phong phú, từ việc thu thập, phân tích và công bố các thông tin và dữ liệu, phối hợp hoạt động quản lý nghề cá thông qua các chương trình và cơ chế chung đến hoạt động như một diễn đàn chính sách và kỹ thuật cũng như đưa ra các quyết định liên quan đến bảo tồn, quản lý, phát triển và chịu trách nhiệm trong việc sử dụng tài nguyên cá.

RFBs đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy nghề cá ổn định lâu dài khi vấn đề hợp tác quốc tế được đặt ra trong hoạt động bảo tồn, quản lý. Đặc biệt, từ sau Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển năm 1992, các công cụ pháp lý đã nhấn mạnh thêm vai trò chủ yếu của RFBs trong quá trình thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế. Khác với RFBs, các RFMOs chỉ có vai trò duy nhất là tạo điều kiện cho các hoạt động bảo tồn, quản lý các đàn cá. Trong những năm gần đây, các RFMOs đang từng bước tăng cường hiệu quả điều hành của mình thông qua việc thực hiện các biện pháp tác động đến hệ sinh thái và các biện pháp phòng ngừa. Đồng thời, các RFMOs cũng đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường những biện pháp kiểm tra, kiểm soát và giám sát, cũng như thông qua những chương trình khu vực cho các quốc gia có cảng và phát triển các tàu cá. Đặc biệt, các RFMOs giữ vai trò trung tâm trong nỗ lực chống lại các hành vi đánh cá IUU. Theo thống kê của FAO, một số lượng không nhỏ các RFMOs đã thông qua ít nhất một vài biện pháp trực tiếp ngăn chặn và xoá bỏ các hành vi IUU. Chẳng hạn, đối với những biện pháp điều tra đăng ký với các tàu cập cảng, tàu vào bờ hoặc tàu quá cảnh để chuyển tàu, có gần mười các RFMOs thực hiện những biện pháp này như Ủy ban bảo tồn các nguồn tài nguyên biển tại Nam Cực (CCAMLR), Ủy ban bảo tồn các loại cá ngừ lớn phía Nam (CCSBT), Ủy ban quốc tế về cá biển Ban tích (IBSFC), Ủy ban cá hồi nhiệt đới các nước Bắc và Nam Mỹ (IATTC), Ủy ban quốc tế về bảo tồn cá ngừ Đại Tây Dương (ICCAT), Ủy ban cá ngừ Ấn Độ Dương (IOTC), Tổ chức nghề cá Tây bắc Đại Tây Dương (NAFO), Ủy ban nghề cá Đông bắc Đại Tây Dương (NEAFC).

4. Kết luận

Hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn, quản lý tài nguyên cá đang là một xu hướng và là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đối với các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Việc làm này có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh nguồn tài nguyên cá của các vùng biển các quốc gia, các khu vực và trên thế giới đang ngày càng suy giảm, cạn kiệt một cách nhanh chóng, đặc biệt là nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái biển. Vì vậy, các tổ chức quốc tế, các hội nghị quốc tế (thông qua các điều ước quốc tế) cũng như các quốc gia (thông qua các các văn bản pháp luật trong nước cũng như các Hiệp định hợp tác song phương, đa phương) đang gấp rút có những hành động khẩn cấp, hợp tác với nhau một cách hiệu quả để bảo vệ nguồn tài nguyên quan trọng này của nhân loại.

 

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

[1]  Đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định

[2] Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc

[3] Hiệp định về tăng cường việc tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý các tàu đánh cá trên biển cả năm 1995

[4]Hiệp định về tăng cường việc tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý các tàu đánh cá trên biển cả năm 1995

[5] Chẳng hạn, trong những năm 90, Cơ quan Phát triển quốc tế Canada đã tài trợ tổng cộng 245 triệu USD cho các nước đang phát triển nhằm mục đích phát triển nghề cá, trong đó 42% được dành cho các hoạt động quản lý, thi hành pháp luật và nâng cao nguồn nhân lực tại các những nước này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Liên Hợp Quốc (1982), Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
  2. Tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc - FAO (1995), Hiệp định về tăng cường việc tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý các tàu đánh cá trên biển cả năm 1995.
  3. Tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc - FAO (1995), Bộ Quy tắc về Ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO năm 
  4. Tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc – FAO (2001), Hiệp định IUU: Illegal, unreported and unregulated fishing (Khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định).

 

INTERNATIONAL COLLABORATION IN FISHERY CONSERVATION

AND MANAGEMENT

Master. NGUYEN THI HA 

 Master. NGUYEN THI HANH 

 University of Law, Hue University

ABSTRACT:

International collaboration is considered an effective way in fishery conservation and management and it is also the obligation of nations. This paper analyses contents and approaches for international collaboration in fishery conservation and management, thereby gaining experience for Vietnam.

Keywords: International collaboration, fishery management, conservation.