Kinh tế

...10/01/2019 lúc 15:15 (GMT)

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 có thể đạt 6,9%

TCCTÔng Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 có thể đạt mức 6,9%, tăng 0,1% so với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua.

Tại buổi tọa đàm “Công bố Báo cáo Kinh tế Vĩ mô Quý IV và cả năm 2018” do VEPR tổ chức sáng nay 10/1/2019, TS. Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng VEPR cho biết, trong năm 2018, Việt Nam đã hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà Quốc hội đề ra.

Trong năm 2018, tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,08%, mức cao nhất sau khủng hoảng tài chính cách đây 10 năm. Theo báo cáo, tăng trưởng tới từ sự phục hồi vững chắc của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ, cùng với sự bứt phá của ngành công nghiệp chế tác.

Trong đó, khu vực FDI tiếp tục là khu vực đóng góp chính vào tăng trưởng thông qua xuất khẩu. Khu vực này trong năm 2018 xuất siêu khoảng 32,81 tỷ USD (tương đương 14%GDP). Điều này tiếp tục cho thấy vai trò đầu tàu thương mại của khu vực này. Mặt khác, nó cũng chỉ ra điểm yếu của nền kinh tế khi phụ thuộc vào khu vực FDI.

VEPR
VEPR dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 có thể đạt mức 6,9%

Về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2019, Viện trưởng VEPR dự báo, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ đạt 6,9%, tăng 0,1% so với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua.

Trong đó, quý I tăng trưởng 6,61% lạm phát 3,25%, quý II tăng trưởng 6,72%, lạm phát 3,72%; quý III tăng trưởng 7,01%, làm phát 3,10; quý IV tăng trưởng 7,12%, l lạm phát 4,28%.

"Động lực tăng trưởng kinh tế trong năm 2019 dựa trên nền tảng đã có từ các năm trước là chu kỳ kinh tế vẫn đang tiếp tục hồi phục cũng như những nỗ lực từ khu vực doanh nghiệp và sự cải cách của Chính phủ cũng sẽ tạo động lực cho nền kinh tế", TS. Nguyễn Đức Thành nhận định.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đức Thành cũng lưu ý, việc sử dụng dự trữ ngoại hối để ổn định giá trị đồng VND như Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện trong thời gian qua không phải là giải pháp can thiệp lâu dài khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam trên thực tế còn nhỏ về quy mô.

Áp lực tỷ giá và lạm phát cùng với quy định hạn chế sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đã khiến lãi suất VND có xu hướng tăng đáng kể vào thời điểm cuối năm. Tuy nhiên, giải pháp nâng lãi suất sẽ dẫn tới những hệ lụy cho doanh nghiệp khi đẩy chi phí vốn tăng do quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn khiêm tốn nên chưa giảm được nhiều gánh nặng cho tín dụng ngân hàng.

Vì vậy, theo ông Nguyễn Đức Thành, việc chủ động giảm giá VND một cách khéo léo giữa mức mất giá của nhân dân tệ (CNY) so với USD là cần thiết để Việt Nam thích ứng trong cuộc chiến tranh thương mại. Viện trưởng VEPR nhận định, nếu có chính sách tỷ giá phù hợp, thương mại Việt Nam hoàn toàn có thể hưởng lợi nhiều hơn từ cuộc chiến này, bên cạnh việc tiếp nhận nhiều đơn hàng chuyển dịch từ Trung Quốc.

Mặt khác, theo số liệu khảo sát của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Nam Trung Quốc thì có 60% doanh nghiệp sẽ trì hoãn hoặc hủy các kế hoạch đầu tư vào Trung Quốc và 70% doanh nghiệp Mỹ được khảo sát sẽ rời khỏi Trung Quốc. Đây sẽ là cơ hội thu hút đầu tư của Việt Nam.

Ngoài ra, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang tạo cho Việt Nam cơ hội lớn trước xu hướng rời bỏ Trung Quốc của chuỗi cung ứng sản xuất, đặc biệt là sự dịch chuyển của các nhà đầu tư và thương mại.

Về chính sách tiền tệ, VEPR cho rằng, việc sử dụng dự trữ ngoại hối để ổn định giá trị đồng VND như Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện trong thời gian qua không phải là giải pháp can thiệp lâu dài khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam trên thực tế còn nhỏ về quy mô (theo tháng nhập khẩu).

Bên cạnh đó, hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế được kỳ vọng sẽ khởi sắc trong năm 2019 với các hiện định thương mại tự do như CPTPP và EU chính thức được thông qua.

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, hiện Ấn Độ là quốc gia có khả năng cao là điểm đến của đợt chuyển dịch chuỗi sản xuất do có thị trường tương đương đáp ứng giống Trung Quốc. Tuy nhiên, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam vẫn là một điểm đến sáng giá nhất do tính tương đồng về văn hóa, môi trường thể chế. Giá nhân công rẻ, khéo tay cũng là những lợi thế khác của Việt Nam.

Những thách thức đặt ra cũng không nhỏ cho Việt Nam khi cơ sở hạ tầng chưa sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển dịch chuỗi sản xuất toàn cầu cũng như bất lợi về lợi thế quy mô như Trung Quốc và Ấn Độ. Để nắm bắt được cơ hội này, đòi hỏi Việt Nam phải cố gắng rất nhiều ở việc cải thiện môi trường thể chế, kinh doanh và chất lượng lao động trong nước.

Hạ An

Cùng chuyên mục