Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 12,5 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 5,8 tỷ USD tỷ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2015.

Tháng 10/2016, Việt Nam đã xuất khẩu 368.000 tấn gạo với giá trị đạt 164 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm 2016 ước đạt 4,2 triệu tấn với trị giá 1,9 tỷ USD, giảm 21,2% về khối lượng và giảm 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2016 đạt 449 USD/tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2015.

Về các thị trường nhập khẩu gạo chính của Việt Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo với 35,4% thị phần, đạt 1,35 triệu tấn và 613,8 triệu USD, giảm 23% về khối lượng và giảm 13,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Đứng thứ hai là Ghana, chiếm 11% thị phần, đạt 387,7 nghìn tấn và 189,6 triệu USD, tăng 41,8% về khối lượng và 36,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Đáng chú ý có thị trường Indonesia, thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ 4 của Việt Nam với 8,2% thị phần, khối lượng gạo xuất khẩu sang Indonesia đạt 359.400 tấn với 142,5 triệu USD, tăng gấp 21,5 lần về khối lượng và gấp 22,5 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường có giá trị giảm mạnh là Philippines (47,8%), Malaysia (47,4%), Singapore (34,6%), Hoa Kỳ (32%), Bờ Biển Ngà (25,2%) và Hồng Kông (11,4%).

Về mặt hàng cà phê, trong tháng 10/2016, khối lượng cà phê xuất khẩu ước đạt 121.000 tấn với giá trị đạt 246 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 10 tháng đầu năm 2016 đạt 1,5 triệu tấn và 2,76 tỷ USD, tăng 40,2% về khối lượng và tăng 25,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm đạt 1.795 USD/tấn, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm 2015. Đức và Mỹ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng qua với thị phần lần lượt là 15,2% và 13,2%.

Giá trị xuất khẩu cà phê trong 9 tháng đầu năm ở hầu hết các thị trường chính của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ năm 2015, ngoại trừ thị trường Tây Ban Nha và Bỉ có giá trị giảm lần lượt là 4,6% và 1,3% so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh là Philippines (74,3%), Algeria (59,7%), Trung Quốc (56,3%), Hoa Kỳ (45,3%), Đức (37,4%) và Nhật Bản (15,4%).

Bên cạnh sự đột phá của mặt hàng cà phê, tiêu và điều cũng là 2 mặt hàng có sự tăng trưởng tốt. Khối lượng xuất khẩu tiêu ước đạt 159.000 tấn và 1,29 tỷ USD, tăng 35,7% so về khối lượng và tăng 15,3% về giá trị. Kim ngạch xuất khẩu hạt điều trong tháng 10/2016 ước đạt 2,33 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 10/2016, mặt hàng cao su cũng tăng trở lại, ước tính khối lượng xuất khẩu cao su đạt 1 triệu tấn, có giá trị 1,28 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2015.

Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 10 năm 2016 đạt 560 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 10 tháng đầu năm 2016 đạt 5,54 tỷ USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc - 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2016 - chiếm 68,9% tổng giá trị xuất khẩu. Các thị trường có giá trị tăng mạnh là Hàn Quốc (17,5%), Anh (11,6%), Trung Quốc (9,4%) và Australia (8,2%).

Đối với mặt hàng thủy sản, trong tháng 10/2016, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang các nước ước đạt 687 triệu USD, đưa giá trị xuấy khẩu thủy sản 10 tháng năm 2016 lên 5,7 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là những thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 9 tháng đầu năm, chiếm 54,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (51,1%), Hà Lan (14,4%), Hoa Kỳ (14,3%) và Thái Lan (10,8%).