Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Lấy kết quả thực tiễn làm thước đo
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và các đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV tại điểm cầu chính Nhà Quốc hội.

Ngày 16/10/2026, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Hội nghị Trung ương 4), trình bày những nội dung cốt lõi của ba nghị quyết về xây dựng Đảng được thông qua tại Hội nghị Trung ương 4, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu chuyển những chủ trương, quyết sách thành kết quả phát triển thực chất, nâng cao đời sống Nhân dân.

Ba nghị quyết cùng được ban hành ngày 15/10/2026, gồm Nghị quyết số 31-NQ/TW về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Nghị quyết số 29-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 30-NQ/TW về xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ.

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, đây không phải là ba nghị quyết riêng lẻ mà là những bộ phận gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tạo nền tảng vững chắc; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền tạo bước chuyển về chất trong năng lực lãnh đạo; xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt, quyết định kết quả tổ chức thực hiện.

Yêu cầu này xuất phát từ nhiệm vụ hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm, phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số, xác lập mô hình phát triển dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những thay đổi về tổ chức bộ máy, không gian phát triển và mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đòi hỏi nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, năng lực tổ chức thực hiện và hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Trong khi đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những hạn chế chậm được khắc phục. Phương thức lãnh đạo có mặt chưa theo kịp thực tiễn; phân công, phân cấp, phân quyền và chế độ trách nhiệm có nơi chưa rõ; đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ còn bất cập. Tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ làm chậm công việc, lãng phí nguồn lực và bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Việc đồng thời ban hành ba nghị quyết thể hiện bước phát triển mới trong tư duy và tầm nhìn chiến lược về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, hướng mạnh vào nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản trị quốc gia; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, chuyển những chủ trương, quyết sách đúng đắn thành kết quả phát triển thực chất, nâng cao đời sống Nhân dân.

Chủ động tự đổi mới, phòng ngừa sai phạm từ sớm

Về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 31-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, không chỉ đặt ra khi có hạn chế, khuyết điểm hoặc xuất hiện vấn đề phức tạp.

Mỗi tổ chức đảng phải chủ động nhận diện vấn đề, sửa chữa khuyết điểm, hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, không chờ đến khi có kiểm tra, kết luận hoặc xảy ra vi phạm mới tiến hành chỉnh đốn.

Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Lấy kết quả thực tiễn làm thước đo
Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc trình bày những nội dung cốt lõi của 3 nghị quyết về xây dựng Đảng.

“Kiên định không có nghĩa là bảo thủ, đổi mới không có nghĩa là xa rời nguyên tắc”, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nêu rõ.

Nghị quyết tiếp tục khẳng định “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” phải kiên quyết, kiên trì, nghiêm minh, đồng thời bảo đảm tính giáo dục và nhân văn. Quản lý Đảng phải chặt chẽ từ tổ chức đến con người, từ phân công nhiệm vụ, thực thi quyền lực đến chấp hành nguyên tắc, chế độ công tác và trách nhiệm giải trình.

Cùng với xử lý nghiêm vi phạm, cần chú trọng khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh sai phạm; hoàn thiện cơ chế, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình; chủ động cảnh báo, phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ gốc. Chỉnh đốn Đảng phải tạo môi trường để cái đúng, cái tốt được khuyến khích, bảo vệ và phát huy.

Một nội dung quan trọng khác là xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh, đề cao trách nhiệm nêu gương và sự thống nhất giữa lời nói với việc làm. Các chuẩn mực đạo đức, văn hóa trong Đảng phải trở thành hành động thường xuyên, thể hiện ở phẩm chất, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và chất lượng phục vụ Nhân dân.

Quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, nghị quyết yêu cầu xây dựng Đảng thực sự dựa vào Nhân dân, gắn bó mật thiết và chịu sự giám sát của Nhân dân; lắng nghe, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.

Chất lượng công tác xây dựng Đảng phải được kiểm chứng qua năng lực lãnh đạo, chất lượng quản trị quốc gia, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và kết quả phát triển đất nước. Một tổ chức đảng vững mạnh phải vừa giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, kỷ luật, vừa có năng lực lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu chuyển đổi số toàn diện trong Đảng, coi đây là phương thức quan trọng để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn và quản lý Đảng trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là số hóa văn bản, hồ sơ mà còn là đổi mới phương thức tổ chức, quản lý, điều hành và lãnh đạo trên cơ sở dữ liệu, công nghệ số. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất phải gắn với bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước; khắc phục tình trạng có công nghệ mới nhưng vẫn làm việc theo cách cũ.

Rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm trong lãnh đạo và thực thi

Nghị quyết số 29-NQ/TW kế thừa, phát triển những quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 28-NQ/TW khóa XIII, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính trị và nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. 

Trong đó, tiếp tục làm rõ và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay; phát huy đầy đủ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu cốt lõi, xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và xã hội, nhưng phải bằng phương thức phù hợp, khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc, bảo đảm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức.

Đảng tập trung lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược, công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát; quyết định hoặc cho chủ trương đối với những vấn đề lớn theo thẩm quyền. Nhà nước chủ động thể chế hóa, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm về quyết định và kết quả thực hiện trong phạm vi thẩm quyền.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc lưu ý, Nghị quyết nhấn mạnh điều quan trọng là phải khắc phục cả hai khuynh hướng: bao biện, làm thay, can thiệp không đúng vào công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước; hoặc buông lỏng lãnh đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, không chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chủ trương.

Phân công, phân cấp, phân quyền phải theo hướng việc gì cấp nào làm tốt hơn thì giao cho cấp đó. Giao nhiệm vụ phải đồng thời giao thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện tương ứng; giao quyền phải xác định rõ trách nhiệm, cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nếu chỉ giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không bảo đảm cán bộ có năng lực, nguồn lực, dữ liệu và điều kiện thực hiện, công việc sẽ ách tắc. Ngược lại, những việc đã thuộc thẩm quyền nhưng vẫn phải xin ý kiến nhiều cấp, nhiều cơ quan cũng làm giảm hiệu quả phân cấp.

Cùng với đó, Nghị quyết yêu cầu đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết. Chương trình, kế hoạch thực hiện phải được chuẩn bị đồng thời với quá trình xây dựng, ban hành nghị quyết, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và kết quả cần đạt.

Văn bản của Đảng phải ngắn gọn, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, đánh giá. Đối với vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ, cần có cơ chế thí điểm phù hợp, được kiểm soát chặt chẽ, có tiêu chí đánh giá và điều kiện điều chỉnh hoặc nhân rộng.

Công tác kiểm tra, giám sát cũng phải chuyển mạnh sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm, đồng hành với quá trình tổ chức thực hiện. Khi kiểm tra một dự án đầu tư công chậm tiến độ, cần làm rõ nguyên nhân do vướng mắc pháp luật, thiếu nguồn lực, phối hợp chưa tốt hay cán bộ né tránh trách nhiệm, từ đó có biện pháp tháo gỡ hoặc xử lý phù hợp.

Hiện đại hóa phương thức lãnh đạo phải gắn với nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, dự báo, ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, dữ liệu không thay thế việc tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe Nhân dân. Kết quả phát triển, chất lượng cuộc sống và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo quan trọng đối với hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền.

Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Lấy kết quả thực tiễn làm thước đo
Các đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV tại điểm cầu chính Nhà Quốc hội.

Chọn đúng người, đánh giá bằng sản phẩm công việc

Về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 30-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy về công tác cán bộ, xuất phát từ nhiệm vụ để lựa chọn, xây dựng và phát triển đội ngũ, không bố trí công việc theo con người hiện có.

Trước hết phải xác định rõ yêu cầu nhiệm vụ, chức năng, vị trí việc làm và năng lực cần thiết, từ đó lựa chọn, đào tạo, bố trí cán bộ phù hợp. Công tác cán bộ phải được thực hiện thống nhất, liên tục từ tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo đến đánh giá, sử dụng, sàng lọc và thực hiện chính sách.

“Công tác cán bộ phải bắt đầu từ yêu cầu của công việc và kết thúc bằng hiệu quả của công việc; không phải tìm việc cho người, mà phải tìm đúng người để làm việc”, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh.

Theo nội dung được trình bày, Bộ Chính trị đã kết luận chỉ đạo trong quý IV/2026, cả hệ thống chính trị phải hoàn thành xây dựng vị trí việc làm. Đây là cơ sở để xác định biên chế, cải cách tiền lương và thực hiện các chính sách về cán bộ.

Đổi mới đánh giá cán bộ được xác định là điểm đột phá quan trọng nhất. Việc đánh giá phải lấy phẩm chất, năng lực, uy tín, đặc biệt là kết quả, sản phẩm công việc làm thước đo chủ yếu; khắc phục tình trạng hình thức, bình quân, nể nang, né tránh.

Đánh giá bằng kết quả không có nghĩa chỉ nhìn vào con số, mà phải xem xét tính chất, độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện, nguồn lực được giao và đóng góp thực chất của từng cá nhân. Kết quả đánh giá phải được sử dụng thực chất trong đào tạo, bố trí, đề bạt, trọng dụng hoặc thay thế cán bộ.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, quy định mới về đánh giá cán bộ sẽ được thống nhất thực hiện từ ngày 1/1/2027; các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động nghiên cứu, chuẩn bị điều kiện triển khai.

Nghị quyết đồng thời yêu cầu mở rộng nguồn cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ; chủ động chuẩn bị đội ngũ kế cận từ sớm, từ xa. Cần mạnh dạn phát hiện, đào tạo, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học, kỹ thuật và người có năng lực nổi trội. Người giỏi chuyên môn phải có cơ hội cống hiến, được ghi nhận, đãi ngộ tương xứng, không nhất thiết phải trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cùng với khuyến khích, bảo vệ người dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung, phải kiên quyết sàng lọc, bố trí lại hoặc thay thế người yếu kém, trì trệ, né tránh trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu.

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ phải gắn với phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về nhận xét, đánh giá, tiến cử, giới thiệu và sử dụng cán bộ; không lợi dụng nguyên tắc tập thể để né tránh trách nhiệm cá nhân.

Trách nhiệm ấy còn được đo bằng chất lượng đội ngũ và nguồn kế cận được chuẩn bị cho những nhiệm kỳ tiếp theo. Dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo có vai trò hỗ trợ, nhưng không thay thế sự đánh giá toàn diện và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ cơ sở

Để triển khai ba nghị quyết, Bộ Chính trị đã xây dựng chương trình hành động chung gồm 5 nhóm nhiệm vụ chung, 3 nhóm nhiệm vụ đặc thù, với tổng số 39 nhiệm vụ. Trong đó, 26 nhiệm vụ có thời hạn hoàn thành và 13 nhiệm vụ thực hiện thường xuyên.

Việc tổ chức thực hiện phải thống nhất, đồng bộ, có trọng tâm, tránh chồng chéo, hình thức và phát sinh thêm thủ tục, hội họp, báo cáo không cần thiết. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải cụ thể hóa nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả.

Các cấp ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, không khoán trắng cho cơ quan tham mưu hoặc dừng lại ở việc ban hành chương trình, kế hoạch. Với người đứng đầu, ba yêu cầu được nhấn mạnh là nêu gương, dám chịu trách nhiệm và biết dùng người.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn học tập, quán triệt nghị quyết với tự soi, tự sửa, nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức và kỹ năng số; làm việc có kỷ luật, có trách nhiệm, có sản phẩm cụ thể.

Ngay trong năm 2027, cần tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng tổ chức đảng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc và chất lượng đội ngũ cán bộ. Những chuyển biến này phải được kiểm chứng bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng giải quyết công việc, mức độ khắc phục hạn chế và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, điều quan trọng là biến nhận thức thành hành động, biến chủ trương thành kết quả cụ thể, để mỗi tổ chức đảng mạnh hơn, phương thức lãnh đạo khoa học, hiệu quả hơn và đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn.