Cách mạng Tháng Tám 1945 đã đem lại cho Đảng ta, dân tộc ta nhiều bài học vô cùng quý báu, làm sáng tỏ chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng là đội tiên phong. Khi phát động Tổng khởi nghĩa, Đảng ta chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, một con số rất nhỏ so với khoảng 20 triệu người trong nước, nhưng đã đi đầu, động viên được toàn dân tham gia Tổng khởi nghĩa, giành lại độc lập cho Tổ quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Thành quả lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là đã xây dựng Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam, Nhà nước dân chủ, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, ngày 3-9- 1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai, gái từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống... Viết về ý nghĩa của Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết”. “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”. Ngày 17-10-1945, Báo Cứu quốc đã đăng Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, trong thư Người khẳng định: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không có ai dẫn đường. Vậy nên, Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Chính vì vậy, ngay những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn nước ta có Hiến pháp để người dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946, lời nói đầu đã chỉ rõ: Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Hiến pháp là thành quả vẻ vang của cách mạng và được xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo. Bảo đảm các quyền tự do dân chủ... Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Hiến pháp khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Để thực thi điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng: “Chính phủ là công bộc của dân”... “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên phải cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, hết lòng phục vụ nhân dân. Ngày 12-10-1945, trên Báo Cứu quốc, Người viết bài: Sao cho được lòng dân? và nhắc nhở rằng: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý... Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”. Trên Báo Sự Thật, nhân ngày Quốc khánh năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài: “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, Người chỉ rõ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ: “Đối với người: Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động. Đối với việc: Chỉ biết khai mạc hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra. Đối với mình: Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo. Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí. Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình. Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra nguyên nhân của bệnh quan liêu vì “xa cách quần chúng, không hiểu biết dân chúng, không học dân chúng, sợ dân chúng phê bình”. Người còn kê ra thang thuốc chữa bệnh quan liêu, đó là: “Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân. Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.- Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Và Người mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”.
