Tóm tắt:Pháp luật của các nước thường quy định việc kiểm soát quyền lực nhà nước được tiến hành thông qua các hoạt động cơ bản: Ban hành các văn bản pháp luật; bầu cử, bổ nhiệm những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước; hoạt động báo cáo của các cơ quan, nhân viên nhà nước; hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát; hoạt động chất vấn, điều trần, bỏ phiếu bất tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; trưng cầu ý dân; hoạt động phản biện xã hội và rất nhiều các hoạt động khác mà hiến pháp và pháp luật của quốc gia quy định. Bài viết bàn luận về cơ chế kiểm soát quyền lực trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) ở Việt Nam hiện nay.Từ khóa: phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI).
1. Đặt vấn đề
Ngày 10/2/2026, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International -TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perception Index - CPI) năm 2025 của 182 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo đó, Việt Nam đạt 41/100 điểm, xếp hạng 81/182 quốc gia. Năm 2024, Việt Nam đạt 40/100 điểm, xếp hạng 88/180 quốc gia. Con số này cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ chống tham nhũng của Việt Nam trong những năm qua đã được thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, chỉ số CPI của nước ta năm 2025 vẫn thấp hơn mức trung bình của thế giới là 42 điểm. Điều này cho thấy, các thể chế kiểm soát quyền lực trong phòng chống tham nhũng của nước ta hiện nay mặc dù đã có tiến bộ hơn 10 năm trước đây (năm 2012, 31 điểm, xếp hạng 123/176), song vẫn còn nhiều điều cần bàn tới. Phải chăng Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) và các văn bản liên quan chưa có hiệu lực, hiệu quả thực sự? Thể chế kiểm soát quyền lực trong PCTNTC hiện nay chưa phát huy hết vai trò hay chưa thực sự phù hợp? Dưới đây là 4 thể chế cơ bản nhất theo nghiên cứu của tác giả nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước trong PCTNTC ở Việt Nam hiện nay.
2. Cơ sở lý thuyết
Thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc ràng buộc hành vi con người liên quan đến quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước.[1]
Theo Luật PCTN năm 2018 và các văn kiện của Đảng, có nhiều cách tiếp cận các loại thể chế trong kiểm soát quyền lực PCTNTC hiện nay. Tuy nhiên, trong phạm bài viết này, tác giả chỉ bàn luận 4 thể chế cơ bản: Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong nội bộ cơ quan đơn vị; Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động tố tụng, thi hành án; Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác báo chí và khiếu nại, tố cáo.
2.1. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán
Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm, nhất là hành vi lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao[2].
Từ khi Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (tháng 2/2013) quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTNTC, công tác PCTNTC đã có bước đột phá, đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.[3]
Dưới sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, hoạt động của Ban Chỉ đạo có nhiều đổi mới, nền nếp, bài bản, khoa học, quyết liệt và hiệu quả. Ban Chỉ đạo vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; vừa quyết liệt chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, với nhiều cơ chế, giải pháp, cách làm bài bản, hiệu quả và không chịu tác động không trong sáng của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào; vừa chọn những khâu yếu, việc khó trong công tác này để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục. Và một trong những dấu ấn quan trọng, đó là ngày 16/9/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo để chỉ đạo cả PCTNTC và phòng, chống tiêu cực.
Có thể thấy, kết quả phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương đã có sự chuyển biến rõ nét từ sau khi các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động năm 2022; số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện, khởi tố mới tăng cao; số vụ, việc có tính chất nghiêm trọng, phức tạp và số cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu vi phạm bị phát hiện, xử lý nhiều hơn. “Đây cũng là câu trả lời thuyết phục nhất đối với những băn khoăn, lo lắng của một số cán bộ, đảng viên và nhân dân về hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh" - Cố Tổng Bí thư khẳng định.[4]
2.2. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ cơ quan đơn vị
Điều 17 Luật PCTN năm 2018 quy định tiêu chí đánh giá về công tác PCTNTC của các cơ quan, đơn vị như sau:
“Việc đánh giá về công tác PCTN được thực hiện theo các tiêu chí: Số lượng, tính chất và mức độ của vụ việc, vụ án tham nhũng; Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về PCTN; Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; Việc phát hiện và xử lý tham nhũng; Việc thu hồi tài sản tham nhũng”[5].
Tuy nhiên, trên thực tế, việc kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong nội bộ cơ quan đơn vị chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức độ tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức tự nguyện, tự giác chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về PCTNTC. Trường hợp họ không thực hiện đúng quy định thì nhắc nhở xử lý nội bộ trước.
“Có thể nói kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan chuyên môn là hiệu quả nhất, không một quốc gia nào không thực hiện”[6]. Nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước như trên đã nói còn xuất phát từ chính bản thân nhà nước nên pháp luật thường quy định, yêu cầu tất cả các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tự thực hiện thông qua việc cam kết, tự kiểm điểm hàng năm của đảng viên, kê khai tài sản của cán bộ hàng năm hoặc thành lập các cơ quan, bộ phận chuyên môn để thực hiện việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Pháp luật khi xác định nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan, nhân viên nhà nước luôn quy định các cơ quan nhà nước phải kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Chẳng hạn, cơ quan nhà nước cấp trên phải kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước cấp dưới, thủ trưởng phải kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân viên để đảm bảo cả bộ máy đều thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất, đúng pháp luật, đúng mục đích mong muốn.
Mặt khác, khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, thì người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cũng bị xử lý kỷ luật về Đảng, về chính quyền theo Điều 70, 71, 72, 73 của Luật PCTN. Do đó, thể chế kiểm soát quyền lực trong PCTNTC trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Bởi vì, khi xử lý kỷ luật cấp dưới thì thủ trưởng trực tiếp hay cấp trên đều bị xử phạt liên đới. Điều 72 Luật PCTN năm 2018 quy định:
“Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới”[7].
Trên thực tế, chúng ta không khó để nhận thấy một thực trạng trong các bản báo cáo tổng kết công tác hàng năm của các cơ quan đơn vị thì số các bộ, nhân viên nhà nước được khen thưởng luôn nhiều hơn số cán bộ bị xử lý kỷ luật hay bị xử lý vì tham nhũng, tiêu cực. Khi vụ việc tham nhũng bị phát hiện thì cơ quan bị trừ điểm thi đua trong một năm là xong.
2.3. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án
“Kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động tố tụng, thi hành án là việc sử dụng các cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm túc chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ, chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan”[8].
Tham nhũng trong hoạt động tố tụng, thi hành án là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan đã lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền vì vụ lợi.
Tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án là hành vi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ, các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, thực hiện không đúng chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Theo báo cáo tổng kết 10 năm của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, thì qua công tác thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 975.000 tỷ đồng, gần 76.000 ha đất; chuyển cơ quan điều tra gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật[9].
Công tác thu hồi tài sản tham nhũng cũng có những chuyển biến tích cực: cơ quan thi hành án dân sự các cấp đã thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt 34,7%, trong khi năm 2013, tỷ lệ này chỉ đạt dưới 10%. Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã thu hồi được gần 50.000 tỷ đồng, đạt 41,3%[10].
2.4. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động báo chí và khiếu nại, tố cáo
Cùng với cơ chế kiểm soát quyền lực, PCTNTC của Đảng, của nội bộ các cơ quan đơn vị và các cơ quan tố tụng đó là vai trò to lớn của nhân dân và báo chí. Sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là thước đo niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PCTNTC, tiêu cực. Khẳng định điều này, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, tiêu cực, đồng chí Phan Đình Trạc nêu rõ: “Chúng ta phải biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, làm cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu không có chỗ ẩn nấp như Bác Hồ đã dạy”[11].
Ở Việt Nam, tự do ngôn luận, tự do báo chí và khiếu nại, tố cáo là những quyền con người, quyền công dân rất quan trọng được quy định tại Điều 25 và Điều 30 của Hiến pháp năm 2013. Điều 5 Luật PCTN cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong PCTNTC như sau:
“Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về PCTN và giám sát việc thực hiện pháp luật về PCTN. Công dân có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong PCTN.”
Tuy nhiên, trên thực tế, sự tham gia của nhân dân và các nhà báo vào việc kiểm soát quyền lực trong PCTNTC còn rất hạn chế, các vụ án tham nhũng bị phát hiện thông qua hoạt động báo chí và khiếu nại, tố cáo chưa nhiều. Các quy định về kiểm soát quyền lực trong hoạt động báo chí, khiếu nại, tố cáo chưa cụ thể rõ ràng. Quy định số 131, 132 năm 2023 của Đảng mới quy định về kiểm soát quyền lực trong hoạt động kiểm tra, giám sát kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán và tố tụng mà chưa đề cập đến kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong hoạt động báo chí và khiếu nại, tố cáo.
Mặt khác, tự do ngôn luận, tố cáo nặc danh, vu khống, bịa đặt đang bị các thế lực thù địch lợi dụng trên các trang mạng xã hội. Do đó, để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong PCTNTC, Ban Chấp hành trung ương cần khẩn trương nghiên cứu và ban hành quy định cụ thể về kiểm soát quyền lực trong hoạt động báo chí, khiếu nại, tố cáo. Các quy định của Luật Báo chí năm 2025, Luật Khiếu nại năm 2011, sửa đổi năm 2025, Luật Tố cáo năm 2019, sửa đổi năm 2025 vẫn chưa có quy định cụ thể về giới hạn của tự do báo chí, về bảo vệ người tố cáo tham nhũng và kiểm soát quyền lực trong hoạt động báo chí, và khiếu nại, tố cáo.
3. Kết luận và kiến nghị
PCTNTC là cuộc chiến hết sức khó khăn, phức tạp, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, nhất định tham nhũng, tiêu cực sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi, bởi "Non cao vẫn có đường trèo. Đường dẫu hiểm nghèo vẫn có lối đi"."[12]. Đây là kết luận của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC trong Hội nghị tổng kết 10 năm PCTNTC ngày 30/6/2022.
Qua nghiên cứu một số thể chế kiểm soát quyền lực trong PCTNTC, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:
Một là, cần sửa đổi, ban hành quy định về việc trao tặng huy hiệu Đảng. Theo đó, khi có quyết nghị công nhận đảng viên chính thức thì sẽ trao tặng huy hiệu Đảng ngay cho đảng viên. Việc đeo huy hiệu Đảng khi thực thi công vụ là bắt buộc đối với mọi cán bộ là đảng viên. Đây cũng là cơ sở thực tiễn rõ nhất để quần chúng nhân dân kiểm soát đảng viên trên mọi lĩnh vực đời sống.
Hai là, trong kiểm soát quyền lực từ nội bộ cơ quan đơn vị, cần nghiên cứu và thực hiện chính sách tiền lương thật cao đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Tuy nhiên, họ không được lĩnh hết tiền phụ cấp chức vụ rất cao đó, mà phải nộp lại theo một tỷ lệ lũy kế từ cấp thấp đến cao (5% đến 50%). Sau nhiệm kỳ 5 năm mà không có hành vi tham nhũng, họ mới được lĩnh số tiền này cộng với lãi suất tiền gửi ngân hàng. Ngược lại, nếu họ chỉ cần tham nhũng từ 2 triệu đồng trở lên là họ sẽ bị xử lý hình sự và sẽ bị mất hết số tiền này. Đây là một trong những bài học kinh nghiệm đã giúp cho Singapore trở thành 1 trong 10 quốc gia đứng đầu thế giới về chỉ số CPI, “Không dám tham nhũng, không cần tham nhũng, không thể tham nhũng và không được tham nhũng”.
Ba là, trong kiểm soát quyền lực từ hoạt động tố tụng và thi hành án, cần có quy chế phối hợp giữa kỷ luật Đảng và xử phạt vi phạm pháp luật của Nhà nước, có thể thành lập cơ quan “Chính pháp” giống Trung Quốc. Đó là sự liên thông giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan tố tụng của chính quyền. Điều này là cần thiết để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa kiểm soát quyền lực từ phía tổ chức đảng và chính quyền. Kỷ luật Đảng dù sao cũng mang tính tự nguyện tự giác nhiều hơn tính cưỡng chế nghiêm khắc của các cơ quan tố tụng.
Bốn là, Ban Chấp hành Trung ương cần sớm ban hành quy định về kiểm soát quyền lực trong hoạt động báo chí và khiếu nại, tố cáo trong PCTNTC. Tự do ngôn luận và khiếu nại, tố cáo đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc để chống phá Đảng và Nhà nước. Đây cũng là một khâu còn nhiều hạn chế trong PCTNTC hiện nay. Do đó, để đồng bộ hóa cơ chế kiểm soát quyền lực trong PCTNTC cần có những quy định cụ thể để phòng, chống việc lạm quyền cũng như lợi dụng sơ hở để kích động khiếu nại, tố cáo trái pháp luật.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] Nguyễn Minh Đoan (2015). Kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Kỷ yếu Hội thảo khoa học tại Viện Nhà nước pháp luật, trang 58.
[2] Khoản 2, Điều 2, Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của BCHTW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
[3,9,10,11] Thu Hà (2022). 10 năm phòng, chống tham nhũng: Quyết liệt, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện. Truy cập tại https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-nhin-lai-10-nam-qua-dinh-ra-phuong-huong-nhiem-vu-cho-thoi-gian-toi
[4] Nguyễn Phú Trọng (2023). Bài phát biểu của Tổng Bí thư trong Hội nghị sơ kết 1 năm Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng tiêu cực. Truy cập tại https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-so-ket-1-nam-hoat-dong-cua-ban-chi-dao-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-cap-tinh-102230619190140061.htm
[5] Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018). Điều 72 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
[6] Nguyễn Minh Đoan (20215). Kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Kỷ yếu Hội thảo khoa học tại Viện Nhà nước pháp luật, trang 61.
[7] Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018). Khoản 1 Điều 17 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
[8] Khoản 9 Điều 2, Quy định 132-QĐ/TW ngày 23/7/2023 của Ban Chấp hành trung ương về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
[12] Nguyễn Phú Trọng (2022). Bài phát biểu của Tổng Bí thư trong Hội nghị Tổng kết 10 năm Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 30/6/2022. Truy cập tại https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-nhin-lai-10-nam-qua-dinh-ra-phuong-huong-nhiem-vu-cho-thoi-gian-toi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2023). Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2023). Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Nguyễn Phú Trọng (2023). Bài phát biểu của Tổng Bí thư trong Hội nghị sơ kết 1 năm Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng tiêu cực. Truy cập tại https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-so-ket-1-nam-hoat-dong-cua-ban-chi-dao-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-cap-tinh-102230619190140061.htm.
Thu Hà (2022). 10 năm phòng, chống tham nhũng: Quyết liệt, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện. Truy cập tại https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-nhin-lai-10-nam-qua-dinh-ra-phuong-huong-nhiem-vu-cho-thoi-gian-toi.
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018). Điều 72 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
Mechanisms for controlling state power in combating corruption and malpractice in contemporary Vietnam
Nguyen Van Vi
Van Lang University
Abstract:
In most countries, the exercise of state power is regulated through fundamental mechanisms, including the enactment of legal documents; the election and appointment of key state officials; reporting and accountability of state agencies and officials; supervision, inspection, auditing, and oversight; questioning, hearings, and votes of confidence or no confidence; referendums; and social critique, among other constitutionally and legally prescribed activities. This study examines these mechanisms in the context of Vietnam, focusing on their role in combating corruption and curbing negative practices in contemporary governance.
Keywords: combating corruption and negative practices, mechanisms for controlling state power, Corruption Perception Index (CPI).
