Tóm tắt:
Bài viết nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính (CĐGT) ở Việt Nam hiện nay. Từ đó nhận diện những vướng mắc, rào cản làm cơ sở đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người CĐGT, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Từ khóa: người chuyển đổi giới tính, quyền của người chuyển đổi giới tính, bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính.
1. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn hiện nay, người CĐGT là đối tượng thường xuyên chịu những tác động tiêu cực từ sự phân biệt đối xử, định kiến và kỳ thị dựa trên giới tính của mình. Mặc dù, kể từ ngày 01/01/2017, việc CĐGT đã chính thức được hợp pháp hóa tại điều 37 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 nhưng nội dung này vẫn chưa được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật có liên quan. Vì thế, người CĐGT chưa nhận được sự bảo vệ của luật pháp một cách hữu hiệu cho dù họ là những con người tồn tại trong xã hội. Điều này cho thấy, việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền đối với người CĐGT ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết.
2. Người chuyển đổi giới tính, quyền của người chuyển đổi giới tính và bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính.
Hiện nay, xã hội thường đề cập đến khái niệm: người đồng tính luyến ái, người song tính, người liên giới tính, người CĐGT… Trong đó, người CĐGT (transgender) được hiểu là người có cơ thể bình thường với một giới tính sinh học hoàn chỉnh (phân biệt rõ là nam hay nữ) nhưng vẫn sử dụng các thủ tục y khoa để điều chỉnh giới tính của mình do sự tác động của yếu tố tâm lý, tâm thần (như rối loạn định dạng giới..)[1] Thực tế cho thấy, vấn đề CĐGT của các cá nhân thường liên quan đến bản dạng giới (gender identity) của người đó, tức là phụ thuộc vào sự tự xác định giới tính của một người trên cơ sở tâm lý của họ (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra). Vấn đề xác định này do chính bản thân họ cảm nhận không nhất thiết phải dựa trên giới tính sinh học hoặc thiên hướng tình dục của họ được người khác cảm nhận.
Cho nên, người chuyển đổi giới tính được hiểu là người có cơ thể bình thường với một giới tính sinh học hoàn chỉnh nhưng vẫn thực hiện can thiệp y học để điều chỉnh giới tính của mình. Vì thế, cũng như những chủ thể pháp luật khác, họ đương nhiên được hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Điều này đã được Điều 2 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR) năm 1948 khẳng định: “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác”. Như vậy, xuất phát từ góc độ quyền con người và bình đẳng giới có thể rút ra định nghĩa quyền của người CĐGT như sau:
Quyền của người CĐGT là những quyền con người của họ được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý bình đẳng của người CĐGT với các chủ thể pháp luật khác trong việc tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào các lĩnh vực của đời sống xã hội...
Đối với vấn đề bảo đảm quyền của người CĐGT, nếu xét về góc độ ngôn ngữ, theo Đại từ điển tiếng Việt thì “bảo đảm” được hiểu là “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, thực hiện được hoặc có được những gì cần thiết”[2]. Trong Từ điển Luật học “bảo đảm” có nghĩa là: “Trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường”[3].
Xét ở góc độ pháp lý, tại Điều 2 Công ước quốc tế về Quyền chính trị và dân sự 1966 (ICCPR) quy định: “Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác”. Còn theo qui định tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” .
Như vậy, nếu xuất phát từ góc độ pháp lý và cách định nghĩa về khái niệm “bảo đảm” có thể xác định: “Bảo đảm quyền của người CĐGT là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện, các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý và tổ chức thực hiện để người CĐGT được thụ hưởng và tiếp cận các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội”.
Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền của người CĐGT được thể hiện trên các phương diện:
Bảo đảm về chính trị: trong mối quan hệ giữa chính trị và bảo đảm quyền của người CĐGT thì chính trị đóng vai trò tiên quyết. Đường lối, chính sách của Đảng gắn với mục tiêu chính trị “vị nhân sinh” sẽ là nền tảng quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành nội dung các quyền bình đẳng cho người CĐGT cũng như xác định trách nhiệm của các chủ thể bảo đảm quyền của người CĐGT. Điều này có ảnh hưởng lớn đến các hiệu quả thực hiện pháp luật của các chủ thể.
Bảo đảm về kinh tế: điều kiện kinh tế có sự tác động mạnh mẽ đến khả năng thực thi quyền của người CĐGT. Một mặt, điều kiện kinh tế phát triển tốt sẽ tạo nhiều cơ hội giúp cho người CĐGT có khả năng có việc làm phù hợp, giúp họ trở thành một chủ thể độc lập về kinh tế. Mặt khác, môi trường kinh tế phát triển lành mạnh có thể mang đến những quan điểm xã hội mới, tăng khả năng ủng hộ từ phía xã hội, hạn chế sự kỳ thị của xã hội đối với người CĐGT. Ngoài ra, môi trường kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất quan trọng để Nhà nước, tổ chức xã hội thực thi có hiệu quả các qui định của pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền của người CĐGT trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bảo đảm về pháp lý: trong các phương thức bảo đảm quyền của người CĐGT thì bảo đảm pháp lý có vai trò quan trọng hàng đầu, bởi hình thức bảo đảm này được thực hiện thông qua công cụ pháp luật. Pháp luật xác định những phương thức cụ thể để nhà nước thông qua các cơ quan của mình thực hiện trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ các quyền của người CĐGT, đồng thời pháp luật tạo cho họ những phương tiện để tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Chính vì thế, pháp luật là cơ sở pháp lý vững chắc để người CĐGT đấu tranh khẳng định vị trí của mình trong đời sống xã hội.
Bảo đảm về văn hóa - xã hội, việc phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho người CĐGT phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho họ được thể hiện đúng bản dạng giới của mình và không bị kì thị, định kiến. Bên cạnh đó, một nền văn hóa phát triển theo hướng cởi mở và tự do cho các cá nhân trong xã hội gắn với ý thức xã hội cấp tiến song hành cùng sự hoàn thiện hệ thống pháp luật sẽ làm tăng hiệu quả thực thi các bảo đảm về quyền của người CĐGT giúp người CĐGT thoát khỏi tâm lý tự ti khi tiếp cận và thụ hưởng quyền.
3. Thực trạng bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính ở Việt Nam hiện nay
Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm quyền của cộng đồng LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender) nói chung và người CĐGT nói riêng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội...
Về chính trị, có thể nói từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm tôn trọng quyền con người. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ quan điểm: “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam … lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Đây chính là nền tảng vững chắc để pháp luật thể chế hóa thành các quyền của người CĐGT. Tháng 9/2014, Việt Nam bỏ phiếu thông qua nghị quyết về Nhân quyền, xu hướng tính dục và bản dạng giới của Hội đồng Nhân quyền, thể hiện cam kết loại bỏ bạo hành và kì thị dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới[4]. Gần đây nhất, ngày 10/5/2024, tại Trụ sở Liên hiệp quốc tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ, nhóm làm việc về Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc đã đồng thuận thông qua Báo cáo quốc gia UPR của Việt Nam[5] với các khuyến nghị: hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người; bảo đảm quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương; bảo đảm bình đẳng giới, quyền trẻ em; tham gia một số công ước quốc tế về quyền con người; hợp tác với các cơ chế của Hội đồng Nhân quyền. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã quyết định đưa Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính vào Chương trình Xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 và cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV và trong Điều 3 Nghị quyết số 129/2024/QH15 của Quốc hội về “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025 và điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024” dự kiến sẽ thông qua Luật CĐGT trong kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV vào tháng 05/2025. Đây là một dấu mốc quan trọng thể hiện tính nhất quán trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm cho người CĐGT được thụ hưởng các quyền bình đẳng của mình một cách thiết thực.
Về kinh tế: Trên cơ sở chủ trương của Đảng và Nhà nước, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/07/2021 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025, trong đó khẳng định mục tiêu “Từng bước xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo đảm cuộc sống bình yên và hạnh phúc của Nhân dân, tinh thần xuyên suốt là “không để ai bị bỏ lại phía sau”… “Trong quá trình phát triển đất nước, luôn quan tâm bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.”[6] Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Chính phủ triển khai các nguồn lực phù hợp cho việc thực hiện các chính sách bảo đảm quyền của người CĐGT.
Tuy nhiên, trên thực tế, người CĐGT ở nước ta vẫn gặp phải những khó khăn nhất định trong quá trình tham gia hoạt động lao động tạo thu nhập, đặc biệt đối với khu vực lao động phi chính thức. Nhiều người CĐGT rất khó xin được việc làm phù hợp với năng lực của mình do bị kỳ thị. Hiện nay, chỉ có một số ngành nghề như thiết kế, thời trang, nghệ thuật, biểu diễn và giải trí… là những lĩnh vực cởi mở và thân thiện với người CĐGT. Bên cạnh đó, hầu như các cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, chưa có sự đầu tư cơ sở vật chất đặc thù cho người CĐGT như: nhà vệ sinh trung tính, nhà vệ sinh dành riêng cho người CĐGT để bảo đảm an toàn cho họ. Thêm vào đó, trong những năm qua, dù sự đầu tư nguồn lực của Nhà nước cho các dịch vụ y tế, pháp lý và xã hội cho người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên dịch vụ cho người CĐGT hầu như chưa có. Chính vì vậy, người CĐGT thường phải tìm đến dịch vụ làm “chui”. Nhất là việc sử dụng các loại thuốc điều chỉnh hormone đặc thù cho họ thường dựa trên hướng dẫn của chính những người trong cộng đồng CĐGT truyền miệng cho nhau chứ Việt Nam chưa có hệ thống các trung tâm tư vấn y khoa chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. Ngoài ra, về mặt tâm lý, người CĐGT thường phải chịu đựng sự căng thẳng do luôn chịu định kiến trong xã hội nhưng chưa có bất kỳ một trung tâm tư vấn nào chuyên tư vấn tâm lý cho người CĐGT.
Về văn hóa - xã hội: Trong những năm gần đây, cách nhìn nhận về người CĐGT đã có nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội Việt Nam, nhận thức của truyền thông về cộng đồng LGBT và quyền của người CĐGT đã được cải thiện. Hiện nay, đã có hơn 40 chương trình với 47 chủ đề đồng tính và CĐGT đăng trên các tờ báo và nền tảng số như Tuổi trẻ, Thanh niên, Tiền phong, Người Lao động, Phụ nữ, An ninh Thế giới và VnExpress. Những kênh truyền hình như VTV3, VTV1, VTV4 và VTV6 đã chiếu những bộ phim tài liệu về cuộc sống của người CĐGT. Nhiều cuốn sách về LGBT được chính những người LGBT viết ra đã được xuất bản[7]. Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) ở Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm chia sẻ những kinh nghiệm quốc tế về vấn đề hôn nhân đồng giới, quyền của người CĐGT với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế. Đặc biệt, Lễ hội Tuần hành Viet Pride diễn ra vào tháng 9 hàng năm bắt đầu từ năm 2012 ở hơn 30 tỉnh, thành trên cả nước với sự hỗ trợ của Liên Hợp quốc đã tác động mạnh mẽ đến xã hội làm thay đổi cách nhìn nhận của xã hội đối với cộng đồng LGBT, trong đó có người CĐGT và giúp họ tự tin hơn trong cuộc sống. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế cho thấy, khoảng hơn 400.000 người CĐGT ở Việt Nam hiện nay chiếm gần 0,3% - 0,5% dân số vẫn đang đối mặt với sự kỳ thị, phân biệt đối xử ở các môi trường khác nhau, từ gia đình, trường học, cộng đồng, nơi làm việc cho tới các không gian công cộng. Một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra cả phụ nữ chuyển giới (TGW) và nam chuyển giới (TGM) đều phải chịu tỷ lệ phân biệt đối xử cao hơn những người khác, ví dụ: 85,9% phải đối mặt với sự phân biệt đối xử do thay đổi ngoại hình và cử chỉ, 29,3% bị gia đình ép đi khám sức khỏe và 46% TGM (tỷ lệ cao nhất trong cộng đồng LGBTI) bị bạn cùng lớp phân biệt đối xử và bắt nạt[8]. Điều quan trọng là người chuyển giới (TGP) phải đối mặt với các rối loạn sức khỏe tâm thần, chẳng hạn như 93,7% TGM và 67,7% TGW thường xuyên gặp phải chứng rối loạn bản dạng giới và gần 10% TGP bị trầm cảm.[9]
Mặt khác, Việt Nam chưa có văn bản luật độc lập quy định chi tiết về quyền của người CĐGT cũng như quy định cơ chế bảo đảm quyền của người CĐGT. Vì thế, chưa có thiết chế mang quyền lực nhà nước nào có trách nhiệm trực tiếp bảo đảm quyền của người CĐGT, chủ yếu việc bảo vệ quyền của người CĐGT hiện nay vẫn dựa vào các tổ chức xã hội như: Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP) thành lập năm 1999; và Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên thành lập năm 2001, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) thành lập năm 2007, đặc biệt là trung tâm ICS - tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBTI+ thành lập năm 2008 đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quyền lợi của công đồng LGBT, nhờ đó đã cung cấp cái nhìn cận cảnh về người CĐGT cùng những khó khăn mà họ đang đối mặt giúp những nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện pháp luật, chính sách nhằm cải thiện cuộc sống của người CĐGT.
Về pháp luật, Điều 14, Điều 16 Hiến pháp 2013 đã khẳng định việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. Trên cơ sở đó, BLDS năm 2015 đã có một điểm đổi mới mạnh mẽ là cho phép cá nhân được CĐGT (Điều 37), lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam thừa nhận về mặt pháp lý vấn đề CĐGT là hợp pháp, đã tạo điều kiện cho người CĐGT được sống đúng với bản dạng giới của mình và được bảo vệ một cách hữu hiệu những quyền và nghĩa vụ thiết thân của họ. Đưa Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ 11 tại châu Á hợp pháp hóa việc CĐGT.[10]
Quốc hội đã quyết định đưa dự án Luật CĐGT vào Chương trình Xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025 với 3 nội dung mang tính nguyên tắc: bảo đảm luật hóa việc CĐGT; cá nhân đã CĐGT có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật; cá nhân đã CĐGT có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của BLDS và luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, trong nội dung dự thảo Luật cũng đã quy định về 15 nhóm quyền của CĐGT và 14 nhóm hành vi nghiêm cấm nhằm bảo đảm cho người CĐGT không bị phân biệt đối xử khi tham gia hoạt động xã hội.
Tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Sự thay đổi này so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã thể hiện bước tiến lớn trong quan niệm, nhận thức của xã hội nói chung về quyền kết hôn, bình đẳng của cộng đồng LGBT. Nhưng việc “không thừa nhận” ở đây cần được hiểu là Nhà nước không thực hiện việc đăng ký kết hôn cho các cặp đôi cùng giới, do đó, giữa họ không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, đồng thời quy định này đã hợp pháp hóa việc tổ chức đám cưới theo phong tục giữa hai người cùng giới được quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 có hiệu lực từ ngày 12/11/2013. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, ngày 8/8/2022, Bộ Y tế ban hành Công văn 4132/BYT-PC chấn chỉnh công tác khám bệnh, chữa bệnh đối với người đồng tính, song tính và CĐGT gửi các Sở Y tế và cơ sở khám chữa bệnh. Qua đó, khẳng định đồng tính, song tính và CĐGT không phải là bệnh nên không cần “chữa” và không thể “chữa”. Cho nên, Bộ Y tế khuyến nghị các cơ sở khám chữa bệnh phải bình đẳng, tôn trọng giới tính, không phân biệt, kỳ thị.
Bên cạnh những thành tựu mà hoạt động lập pháp đã đạt được thực tế cho thấy, trong nội dung các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn tồn tại một số bất cập nhất định gây ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận quyền của người CĐGT. Điều này thể hiện rõ ở chỗ:
Kể từ khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực (từ ngày 01/01/2017) cho đến nay, vấn đề đăng ký thay đổi hộ tịch cho những trường hợp đã CĐGT vẫn chưa được tiếp nhận giải quyết trên thực tế. Vấn đề này đã được Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực của Bộ Tư pháp chính thức nêu ra tại Công văn số 394/HTQTCT-HT ngày 10/5/2017 về hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch: “Điều 37 BLDS năm 2015 quy định “Việc CĐGT được thực hiện theo quy định của luật”, trong khi đó luật về CĐGT chưa được ban hành nên việc CĐGT chưa có cơ sở pháp lý để công nhận và thực hiện đăng ký thay đổi hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ từ chối giải quyết”[11]. Điều này cho thấy, những người CĐGT muốn đăng ký thay đổi hộ tịch cho mình thì phải chờ cho đến khi Quốc hội ban hành Luật về CĐGT. Điều này gây không ít khó khăn, lúng túng cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý về hộ tịch mà đồng thời gây ảnh hưởng đến quyền của người CĐGT gây mặc cảm, ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống cũng như sinh hoạt hằng ngày của họ.
Bên cạnh đó, trong pháp luật vẫn tồn tại sự thiếu thống nhất trong cách hiểu về khái niệm giới. Chẳng hạn, theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2011) chỉ xác định, Việt Nam có hai nhóm giới tính đó là nam và nữ, không có quy định nào xác định giới tính khác. Quan điểm này đúng nhưng thực sự chưa đủ, chưa đáp ứng được xu hướng phát triển về giới hiện nay. Nhà làm luật chỉ mới thừa nhận ở mức độ giới tính sinh học mà chưa có sự ghi nhận bình đẳng về xu hướng tình dục và bản dạng giới khác nhau. Điều này đã tạo nên quan niệm về bình đẳng giới bị bó hẹp là cơ sở cho sự tồn tại các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người CĐGT.
Những quy định của pháp luật tố tụng vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến người CĐGT. Nhất là liên quan đến việc tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong tố tụng hình sự như khám người, tạm giữ, tạm giam hay khi tiến hành thi hành án phạt tù đối với người CĐGT. Theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 18 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và Khoản 3 Điều 30 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì người đồng tính, người CĐGT, người chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí tạm giữ, tạm giam riêng. Tuy nhiên, các quy định sử dụng thuật ngữ “có thể” tức là chưa chắc chắn, nếu trên thực tế điều kiện cơ sở vật chất của trại giam không đáp ứng thì việc dành phòng giam riêng dành cho người CĐGT không mang tính bắt buộc. Điều này dẫn đến hệ lụy khi ở trong phòng giam, họ có thể sẽ bị xâm hại tình dục, bị trêu ghẹo, gây sự đánh nhau rồi dẫn đến các hành vi phạm tội khác.
4. Nguyên nhân của những hạn chế vướng mắc
Thứ nhất, chính sự chưa hoàn thiện hệ thống pháp luật với sự thiếu vắng văn bản Lụật trực tiếp điều chỉnh quyền lợi của người CĐGT cũng như hình thành cơ chế baỏ đảm quyền của người CĐGT đã tác động tiêu cực đến hiệu quả thực thi quyền của người CĐGT trên thực tế, vô hình trung làm cho người CĐGT luôn phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống.
Thứ hai, sự tối ưu hóa của chủ nghĩa độc tôn dị tính (heterosexism) trong số đông người trong xã hội, cho rằng dị tính là ưu việt hơn, xem những gì ngoài dị tính đều là thấp kém hơn; và tiến tới chối bỏ, tạo sự thiên vị, phân biệt đối xử với những thiểu số tính dục khác[12] đã tạo nên sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người CĐGT.
Thứ ba, ở Việt Nam, quan niệm về văn hóa gia đình truyền thống đã ăn sâu bén rễ trong xã hội, coi gia đình là tế bào của xã hội, nên gia đình hình thành từ quan hệ nam nữ gắn với chức năng sinh sản trở thành đặc trưng của hạnh phúc theo quan niệm truyền thống của gia đình Châu Á. Vì vậy, xã hội khó có thể chấp nhận hôn nhân đồng tính cũng như người CĐGT và luôn nhìn họ với ánh mắt kỳ thị.
Thứ tư, nhận thức của các chủ thể trong xã hội còn chưa đầy đủ. Bản thân một số chủ thể chưa quan tâm đến vấn đề đa dạng tính dục, đa dạng bản dạng giới nên đôi khi còn thiếu “nhạy cảm” đối với các vấn đề CĐGT. Điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thể hiện vai trò của họ trong việc thúc đẩy quyền của người CĐGT.
5. Kết luận và kiến nghị
Từ những phân tích trên cho thấy, trên thực tế nhu cầu CĐGT và bảo đảm quyền của người CĐGT hiện nay là có thật, nó đã bộc lộ những bất cập trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật. Chính vì thế, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, khái niệm “giới” hiện nay cần được xác định lại theo hướng không chỉ bó hẹp trong ý nghĩa là nam và nữ mà còn phải bao hàm các nhóm giới tính thứ ba. Nhóm này đang hiện hữu ngày càng rõ nét ở Việt Nam và phải gánh chịu sự kỳ thị từ cộng đồng xã hội. Để có thể giúp họ tránh bị tổn thương, mặc cảm, chúng tôi kiến nghị: trong nội dung Khoản 1 Điều 26 của Hiến pháp năm 2013 nên sửa cụm từ: “Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” thành “Công dân không phân biệt giới tính đều bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”.
Thứ hai, cần sửa đổi nội dung Luật Bình đẳng giới năm 2006 theo hướng: từ Điều 10 đến Điều 19 của Luật không chỉ tập trung vào hai khái niệm “nam, nữ” vốn dựa trên giới tính sinh học mà phải mở rộng ra cả vai trò giới, bản dạng giới để mọi công dân đều được bảo vệ khỏi phân biệt đối xử về giới. Phải công nhận vấn đề bình đẳng giới đối với người đồng tính, liên giới tính và người CĐGT.
Thứ ba, cần sớm xem xét ban hành Luật CĐGT nhằm cụ thể hóa những nguyên tắc bảo đảm quyền đối với người CĐGT đồng thời hình thành cơ chế pháp lý để bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính. Ngoài ra, Luật cần phân định rõ quyền xác định lại giới tính và quyền chuyển đổi giới tính, từ đó có quy định phù hợp, tương ứng với các chủ thể, quy định về thủ tục thực hiện việc CĐGT cũng như thay đổi giấy tờ nhân thân phù hợp với giới tính mới. Điều này giúp xóa bỏ các rào cản về thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho họ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ y tế đặc thù.
Thứ tư, trong nội dung Luật Hộ tịch năm 2014 cần bổ sung những quy định liên quan đến vấn đề xác định lại giới tính cho phù hợp với nội dung Điều 37 của BLDS năm 2015. Bên cạnh đó, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng cần quy định cụ thể các biện pháp nhằm bảo đảm quyền của người CĐGT trong việc đăng ký giới tính...
Thứ năm, cần đẩy nhanh việc hoàn thiện khung pháp lý thông qua việc điều chỉnh và bổ sung các luật phụ trợ bảo đảm tương thích với Luật CĐGT; đồng bộ hóa các văn bản pháp luật khác có liên quan. Quy định rõ ràng về các khái niệm, thủ tục, quyền và nghĩa vụ liên quan, thiết lập cơ chế thực thi và giám sát độc lập đối với việc bảo đảm quyền của người CĐGT.
Thứ sáu, cần chú trọng công tác truyền thông, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể đối với vấn đề CĐGT, ngăn chặn sự tác động của những quan niệm xã hội khắt khe, bảo thủ là tiền đề của sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người CĐGT.
Thứ bảy, đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia liên quan đến quyền của người CĐGT để vận dụng nó trong quá trình xây dựng Luật về người CĐGT như: Pháp, Hà Lan, Đức, Thái Lan... Đồng thời, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, như: Liên hiệp quốc, Tổ chức Y tế thế giới để nhận được các hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, y tế, chia sẻ kinh nghiệm trong CĐGT [13].
Nhìn chung, vấn đề bảo đảm quyền của người CĐGT dù khá mới mẻ đối với Việt Nam nhưng thực sự rất cần thiết, tạo điều kiện cho người CĐGT có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, góp phần giúp cộng đồng LGBT thoát ra khỏi những kỳ thị, khỏi sự xâm hại và có thể hòa nhập dễ dàng vào đời sống xã hội. Điều này thể hiện rõ bản chất dân chủ XHCN của Nhà nước Việt Nam và phù hợp với xu thế chung của thế giới: phát triển kinh tế xã hội luôn song hành với vấn đề giải phóng con người ra khỏi những định kiến của xã hội, giúp họ sống đúng với bản dạng giới của mình, đây cũng là sự biểu thị cao nhất của quyền con người, quyền công dân.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
1 The Guidelines for Psychological Practice with Lesbian, Gay, and Bisexual Clients, adopted by the APA Council of Representatives, February 18-20, 2011.
2 Nguyễn Như Ý (Chủ biên, 2012), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi, tr.463
3 Nguyễn Hữu Huỳnh (Chủ biên 1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.33
4 Bộ Ngoại giao. (2016), Việt Nam- Báo cáo nhân quyền 2014 của Bộ ngoại giao Anh. Link truy cập: https://www.gov.uk/government/publications/vietnam-country-of-concern--2/vi-t-nam-bao-cao-nhan-quy-n-2014-c-a-b-ngo-i-giao-anh#quyn-ca-ngi-lgbt-ng-tnh-song-tnh-hoc-chuyn-gii
5 Bộ Ngoại giao (2025) Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR)chu kỳ iV của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
6 Quốc hội (2021), Nghị quyết số 16/2021/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, cổng thông tin Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=203822
7 UNDP (2014), Being_LGBT_in_Asia_Viet_Nam, Viet Nam Country Report, August 2,2014.https://www.undp.org/vietnam/publications/being-lgbt-asia-viet-nam-country-report
8Nguyen, L. T. T., Cu, L. N. T., Hoai Nguyen, A. L., Nguyen, G. Q., & Cu, L. C. (2025). An exploration of transgender people’s lived experiences in addressing mental health challenges in vietnam. Clinical Social Work Journal, 53(1), 3-15.
9 Do, T. T., & Nguyen, A. T. V. (2020). “They know better than we doctors do”: Providers’ preparedness for transgender healthcare in Vietnam.
Health Sociology Review, 29(1), 92–107
10 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2016), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Pháp luật về chuyển đổi giới tính trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr 10.
11 Bộ Tư pháp, Công văn số 394/HTQTCT-HT ngày 10/5/2017 về hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch huvienphapluat.vn/cong-van/Bo-may-hanh-chinh/Cong-van-394-HTQTCT-HT-2017-huong-dan-nghiep-vu-ho-tich-363116.aspx
12 Trương Hồng Quang, Luận án Tiến sĩ luật học, Quyền cử người đồng tính, song tính, chuyển giới, liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, 2019.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bộ Tư pháp (2017), Công văn số 394/HTQTCT-HT ngày 10/5/2017 về hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch, truy cập tại http:/thuvienphapluat.vn/cong-van/Bo-may-hanh-chinh/Cong-van-394-HTQTCT-HT-2017-huong-dan-nghiep-vu-ho-tich-363116.aspx
- Bộ Ngoại giao (2016), Việt Nam - Báo cáo nhân quyền 2014 của Bộ ngoại giao Anh. Truy cập tại https://www.gov.uk/government/publications/vietnam-country-of-concern--2/vi-t-nam-bao-cao-nhan-quy-n-2014-c-a-b-ngo-i-giao-anh#quyn-ca-ngi-lgbt-ng-tnh-song-tnh-hoc-chuyn-gii
- Bộ Ngoại giao (2025) Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015), Bộ luật Dân sự Nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2006), Luật Bình đẳng giới nước CHXHCN năm 2006, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2021), Nghị quyết số 16/2021/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025, cổng thông tin Chính phủ. Truy cập tại https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=203822
- The APA Council of Representatives, The Guidelines for Psychological Practice with Lesbian, Gay, and Bisexual Clients, February 18-20, 2011.
- Nguyễn Hữu Huỳnh (Chủ biên 1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
- Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2016), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Pháp luật về chuyển đổi giới tính trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội.
- Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình, Mai Thanh Tú, (2012) Người chuyển giới ở Việt Nam - Những vấn đề thực tiễn và pháp lý, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), Hà Nội.
- Trương Hồng Quang, (2019), Luận án Tiến sĩ luật học, Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới, liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.
- Nguyen, L. T. T., Cu, L. N. T., Hoai Nguyen, A. L., Nguyen, G. Q., & Cu, L. C. (2025), An exploration of transgender people’s lived experiences in addressing mental health challenges in Vietnam, Clinical Social Work Journal 53(1).
- Do, T. T., & Nguyen, A. T. V. (2020), “They know better than we doctors do”: Providers’ preparedness for transgender healthcare in Vietnam, Health Sociology Review, 29 (1).
- Đoàn Thị Tố Uyên, Trần Xuân Ngọc, Lò Hải Yến (2025), “Pháp luật của một số quốc gia về chuyển đổi giới tính” Tạp chí quản lý nhà nước, số 349.
- UNDP (2014), Being_LGBT_in_Asia_Viet_Nam, Viet Nam Country Report, August 2,2014.https://www.undp.org/vietnam/publications/being-lgbt-asia-viet-nam-country-report, truy cập ngày 24/04/2025.
- Nguyễn Như Ý (Chủ biên, 2012), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi.
Ensuring the rights of transgender people in Vietnam
Mai Thi Dieu Thuy
Faculty of Administrative Law, University of Law, Hue Unversity
Abtract:
This study explores the theoretical foundations and current state of protecting the rights of transgender people in Vietnam. It identifies key obstacles and barriers that hinder the effective realization of these rights and proposes practical solutions to address them. By enhancing the protection of transgender rights, the study aims to contribute to advancing the core values of the Socialist Republic of Vietnam: recognizing, respecting, ensuring, and safeguarding human rights and civil rights.
Keywords: transgender people, transgender rights, ensuring transgender rights.
