Tóm tắt:

Quy định pháp luật về thừa kế thế vị là quy định nhân văn được áp dụng ổn định từ khi ban hành cho đến nay. Tuy nhiên, do sự phát triển của các quan hệ xã hội, đặc biệt là việc phát sinh các vấn đề mới trong đời sống xã hội, việc áp dụng quy định này đôi khi còn nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất. Tác giả bài viết phân tích các vấn đề thực tế và kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, đặc biệt là người thừa kế thế vị trong thực tiễn phân chia di sản thừa kế hiện nay.

Từ khóa: quyền thừa kế, di sản, người để lại di sản, người thừa kế thế vị, Bộ luật Dân sự 2015.

1. Một số vấn đề liên quan đến quyền của người thừa kế thế vị khi phân chia di sản thừa kế

Tại Điều 652 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, thừa kế thế vị được quy định như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; Trường hợp nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Theo đó, thừa kế thế vị xảy ra khi con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (cháu được thừa kế thế vị); cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (chắt được thừa kế thế vị)[1]. Điều kiện đầu tiên làm phát sinh quan hệ thừa kế thế vị đó là phải xảy ra sự kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với ông bà (nội, ngoại) hoặc các cụ (nội, ngoại) và người thừa kế thế vị luôn ở vị trí đời sau, tức là chỉ có con hoặc cháu thế vị cha, mẹ hoặc ông, bà để hưởng di sản của ông bà hoặc cụ.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, phân chia di sản cũng cần thống nhất một số vấn đề sau:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế thế vị là quan hệ huyết thống thì khi cha mẹ hoặc ông bà chết trước ông bà hoặc cụ thì cháu hoặc chắt sẽ được hưởng thừa kế thế vị. Trong trường hợp hàng thừa kế thứ nhất còn duy nhất một người mà lại chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì hàng thừa kế thứ nhất lúc này không còn ai, do vậy phải chia thừa kế cho hàng thứ hai, con của họ (cháu của người chết) không được hưởng thừa kế thế vị mà sẽ được hưởng di sản với tư cách là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai. Trong trường hợp cháu cũng chết trước ông bà thì chắt được thừa kế thế vị cha mẹ (cháu của người để lại di sản) để hưởng di sản thừa kế của cụ. Ví dụ: Cụ A có con duy nhất là ông B, ông B có con là C và D. C kết hôn với M sinh được G và K. G kết hôn với L sinh được V. Trong một vụ tai nạn ông B và anh C chết cùng lúc. Cụ A chết không để lại di chúc, di sản của cụ A chia cho hàng thừa kế thứ hai do hàng thừa kế thứ nhất là ông B đã chết trước cụ A. Tuy nhiên, ở hàng thừa kế thứ hai C cũng chết trước cụ A nên di sản của cụ sẽ chia cho D và G,K (thế vị một suất của C).

Như vậy, theo quy định pháp thừa kế thế vị giữa những người có quan hệ huyết thống có thể xảy ra ở hàng thừa kế thứ nhất hoặc hàng thừa kế thứ hai.

Thứ hai, mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế thế vị là quan hệ nuôi dưỡng thì cháu nuôi được hưởng thừa kế thế vị di sản của ông bà hoặc cụ nếu cha mẹ nuôi hoặc ông bà (là bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi của bố mẹ nuôi) chết trước ông bà hoặc cụ, tức là chỉ cần mối quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được pháp luật công nhận thì cháu hoặc chắt sẽ được thay thế vị trí của ông bà hoặc cha mẹ nuôi để hưởng thừa kế thế vị nếu đủ điều kiện. Tại Điều 653 BLDS năm 2015 quy định: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”, tức là con nuôi được hưởng thừa kế thừa kế theo pháp luật của cha mẹ nuôi (Điều 651) và con (hoặc cháu) nuôi được hưởng thừa kế thế vị nếu ông, bà hoặc cha, mẹ nuôi chết trước ông, bà hoặc cụ nuôi (Điều 652).

Hiện nay, pháp luật chỉ quy định là cháu hoặc chắt nuôi được hưởng thừa kế thế vị nếu đủ điều kiện nên có quan điểm cho rằng cháu (hoặc chắt) nuôi chỉ được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp quan hệ giữa đời thứ nhất với đời thứ hai là nuôi dưỡng nhưng quan hệ giữa đời thứ hai với đời thứ ba lại là huyết thống, tức là con (hoặc cháu) ruột của con nuôi người để lại di sản (A nhận nuôi B và B sinh ra C). Trường hợp này cũng được áp dụng đối với con riêng của vợ, của chồng, nếu con riêng với mẹ kế, bố dượng được thừa nhận là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con [2]. Còn các trường hợp khác con (hoặc cháu) nuôi không được thừa kế thế vị.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chỉ quy định là cháu hoặc chắt nuôi được hưởng thừa kế thế vị nếu đủ điều kiện, chứ không phân biệt cháu hoặc chắt nuôi trong mối quan hệ nào?

Bởi vậy, theo quan điểm của tác giả, cháu hoặc chắt nuôi sẽ được hưởng thừa kế thế vị trong mọi trường hợp nếu có đủ điều kiện bởi lẽ giữa cháu (chắt) nuôi với cha mẹ nuôi đã tồn tại mối quan hệ nuôi dưỡng và được pháp luật công nhận thì khi cha, mẹ hoặc ông, bà nuôi chết trước thì cháu, chắt nuôi cũng xứng đáng được hưởng thừa kế thế vị cũng tương tự như trường hợp con riêng được hưởng thừa kế thế vị cha dượng, mẹ kế. Đây là nét văn hóa dân tộc thể hiện truyền thống đạo đức và tính nhân văn trong pháp luật Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần lưu ý, khác với trường hợp mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế thế vị là quan hệ huyết thống, trong trường hợp hàng thừa kế thứ nhất không còn ai thì di sản của người chết được chia cho hàng thừa kế thứ hai, cháu nuôi không là đối tượng thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai nên không đặt ra vấn đề thừa kế do pháp luật ưu tiên chia di sản thừa kế cho những người có mối quan hệ huyết thống. Do vậy, cháu hoặc chắt nuôi chỉ được hưởng thừa kế thế vị ở hàng thừa kế thứ nhất, tức là chỉ khi nào hàng thừa kế thứ nhất còn người thừa kế thì cháu hoặc chắt nuôi mới được hưởng thừa kế thế vị.

Như vậy, thừa kế thế vị là một chế định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thân thích nhất của người để lại di sản, tránh trường hợp di sản của ông, bà, cụ mà cháu, chắt không được hưởng lại để cho người khác hưởng.

2. Kiến nghị áp dụng thống nhất các quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người thừa kế thế vị trong thực tiễn phân chia di sản thừa kế

Thứ nhất, quyền thừa kế thế vị của đứa trẻ được sinh ra theo phương pháp hỗ trợ sinh sản. Thực tiễn có vụ việc như sau: Vợ chồng ông A bà B có người con trai duy nhất là anh C. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C được chẩn đoán bị hiếm muộn nên đã sử dụng phương pháp thụ tinh ống nghiệm. Sau hai lần thực hiện không thành công, vợ chồng anh quyết định thực hiện lần thứ ba. Khi chưa tiến hành chuyển phôi vào cơ thể người vợ thì anh C và ông A cùng chết trong một tai nạn, sau đó vợ anh C sinh ra cháu D (còn sống). Vậy trường hợp này, cháu D có được hưởng thừa kế thế vị anh C khi phân chia di sản của ông A hay không?

Về mặt pháp lý, tại điều 613 BLDS năm 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống… hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”, mà thực tế cháu D thành thai sau khi anh C chết nên sẽ không được công nhận là người thừa kế của anh C, mặc dù giữa họ tồn tại mối quan hệ huyết thống. Chình vì vậy, khi anh C và ông A chết cùng thời điểm, cháu D cũng không được hưởng thừa kế thế vị anh C khi phân chia di sản thừa kế của ông A.

Nhưng về thực tiễn, xét điều kiện hưởng di sản thừa kế của cháu D ta thấy: Tại thời điểm anh C chết (thời điểm mở thừa kế), tuy cháu D chưa đáp ứng điều kiện “đã thành thai” nhưng đã có căn cứ y tế chứng minh cháu D “sẽ thành thai” và sự thật cháu D đã được sinh ra và còn sống. Hơn nữa, vợ chồng anh C rất hy vọng có được đứa con của mình thể hiện ở việc vợ chồng anh đã thực hiện thụ tinh ống nghiệm nhiều lần, chắc chắn anh C cũng mong muốn đứa con mà mình mong chờ sẽ được hưởng phần di sản do anh để lại. Khi cháu D được hưởng thừa kế của anh C, đồng nghĩa cháu cũng được hưởng thừa kế thế vị di sản của ông A.

Bởi vậy, để phù hợp với tình hình thực tiễn xã hội hiện nay, theo tác giả cần có một văn bản hướng dẫn cụ thể vấn đề này như sau:

Trong trường hợp tại thời điểm người để lại di sản thừa kế chết mà người thừa kế là cá nhân chưa thành thai nhưng đã có chứng cứ y tế chứng minh sự xuất hiện của cá nhân đó trong tương lai như bắt đầu được thụ thai (ở tuần đầu tiên của thai kỳ), đang thực hiện quá trình thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm thì nếu đứa trẻ đó sinh ra và còn sống sẽ được hưởng thừa kế của người để lại di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Thứ hai, mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế thế vị là quan hệ con riêng với bố dượng, mẹ kế được thừa nhận là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì cũng được thừa kế thế vị. Điều 654 của BLDS 2015 quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được chia thừa kế theo quy định tại Điều 652 (thừa kế thế vị) và Điều 653 của Bộ luật này”. Việc xác định có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau trên thực tế như cha con, mẹ con cần phải đánh giá một cách toàn diện trên thực tế: bố dượng, mẹ kế nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thương yêu con... hoặc bố dượng, mẹ kế được con riêng phụng dưỡng, chăm sóc, kính trọng, yêu thương... Tương tự như trường hợp cháu, chắt nuôi thì cháu hoặc chắt là con, cháu riêng của con, cháu người để lại di sản cũng chỉ được thừa kế thế vị khi hàng thừa kế thứ nhất còn người thừa kế. Tuy nhiên, cũng như điều kiện được hưởng thừa kế giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng, pháp luật cũng cần quy định rõ điều kiện là chỉ khi nào bố, mẹ đẻ của cha dượng, mẹ kế thực sự coi con riêng của con mình như cháu ruột thì sẽ được hưởng thừa kế thế vị.

3. Kết luận

Quy định pháp luật về thừa kế thế vị là quy định vừa thể hiện sự công bằng, vừa thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam. Mặc dù vậy, thực tiễn áp dụng quy định này còn nhiều vướng mắc do các vấn đề mới phát sinh, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất, phần nào ảnh hưởng đến quyền thừa kế thế vị của công dân. Do vậy, các nhà làm luật cần dự liệu các tình huống có thể phát sinh trong đời sống xã hội để ban hành quy định pháp luật điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn, nhằm đảm bảo quyền thừa kế, đặc biệt là quyền thừa kế thế vị của công dân trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu trích dẫn:

Đinh Trung Tụng (2021), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Tư pháp, trang 423.

Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, truy cập tại https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2412

Bộ luật dân sự 2015.

Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam. Truy cập tại https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2412

Đinh Trung Tụng (2021), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Tư pháp;

Phùng Trung Tập (2016), Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề triển khai thi hành BLDS năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Văn Linh (2022), Cần làm rõ một số quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự 2015. Truy cập tại https://lsvn.vn/can-lam-ro-mot-so-quy-dinh-ve-thua-ke-the-vi-trong-bo-luat-dan-su-20151664896135-a124783.html

Protecting heirs’ rights in the practice of inheritance distribution

Tran Thi Thu Hang

University of Economics - Technology for Industries

Abstract:

This study examines the legal provisions on substitute inheritance, which have been recognized as humane regulations and consistently applied since their enactment. However, the evolution of social relations and the emergence of new societal issues have created challenges and inconsistencies in their practical application. Drawing on a comprehensive analysis of current practices, the study identifies key difficulties in protecting the rights of heirs, particularly substitute heirs, and proposes a set of solutions to enhance the effectiveness and fairness of inheritance distribution in contemporary practice.

Keywords: inheritance rights, heritage , testator, substitute heir, the Civil Code 2015.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 31 năm 2025]