Bộ Công Thương vừa có Tờ trình số 4153/TTr-BCT ngày 06/6/2026 trình Chính phủ về việc xây dựng Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước.

xuất xứ
Bộ Công Thương xây dựng Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước. (Ảnh minh họa)

Góp phần tạo ra môi trường thương mại nội địa minh bạch, chất lượng, an toàn

Về cơ sở xây dựng Nghị định, theo Bộ Công Thương, tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới nêu rõ, việc đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó, đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động thương mại trong bối cảnh mới, nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho sự phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”; đồng thời hướng đến cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật.

Thực hiện chủ trương Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại các Nghị quyết liên quan phát triển xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, sự minh bạch, thông tin về đặc tính chất lượng sản phẩm, hàng hóa góp phần tạo ra một môi trường thương mại nội địa trong sạch, chất lượng, an toàn.

Vì vậy, việc xây dựng và ban hành dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước đã phù hợp nhằm thể chế hóa đúng và đầy đủ chủ trương của Đảng, đường lối chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thương mại nội địa đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp lý minh bạch, đầy đủ hơn, phù hợp hơn với thực tiễn thương mại trong bối cảnh tình hình mới.

Về cơ sở thực tiễn, cho tới nay, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về xuất xứ hàng hóa để quy định một sản phẩm được coi là có xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu, giúp hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu theo cam kết tại các hiệp định thương mại tự do hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương. Với hàng hóa sản xuất trong nước, bao gồm cả hàng hóa sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu và sau đó lưu thông trong nước, để thể hiện xuất xứ trên nhãn hàng hóa, cần có tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước hiện chưa được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật.

Một số sản phẩm hàng hóa lưu thông trong nước dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản, không làm thay đổi cơ bản tính chất hàng hóa cũng được doanh nghiệp tự gắn nhãn "sản xuất tại Việt Nam" hay “sản phẩm của Việt Nam” khiến người tiêu dùng thắc mắc, thậm chí bức xúc nhưng các cơ quan chức năng lại không có căn cứ hay chế tài để xử lý.

Từ thực tiễn hoạt động thương mại trong nước yêu cầu đặt ra là cần ban hành quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước. Các doanh nghiệp có thể căn cứ quy định để xác định tiêu chí xuất xứ phù hợp với hàng hóa của mình, tự xác định xuất xứ hàng hóa, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái, hàng gian lận xuất xứ, làm căn cứ xây dựng thương hiệu, uy tín “sản phẩm của Việt Nam", giữ vũng thị phần hàng hóa Việt Nam trên chính sân nhà và tránh phát sinh tranh chấp giữa bên lưu thông hàng hóa với bên sử dụng hàng hóa trong nước, gây tổn hại đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước còn đáp ứng nhu cầu thể hiện xuất xứ hàng hóa theo thông lệ quốc tế, quân lý thị trường trong nước và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sự hình thành các chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong đó nhiều nước cùng tham gia sản xuất một sản phẩm, đã và đang tạo ra những thay đổi trong cách hiểu về xuất xứ hàng hóa. Bên cạnh những cách thể hiện truyền thống như “Sản phẩm của...”. “Sản xuất tại...”, đã xuất hiện những cách thể hiện khác như “lắp ráp tại (quốc gia, vùng lãnh thổ)” hay “chế tạo bởi (tên công ty, tập đoàn)",...

Thời gian qua, nhiều sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có chất lượng tốt và đã có chỗ đứng trên thị trường trong nước. Xuất phát từ thực tế này, có trường hợp hàng hóa được sản xuất nhập khẩu từ nước ngoài hoặc đặt gia công tại nước ngoài nhưng lại gắn mác là hàng "Made in Vietnam" để gian lận thương mại, đánh lừa người mua, người tiêu dùng. Có trường hợp thương nhân không cố tình gian lận nhưng quan niệm của thương nhân về vấn đề này còn đơn giản, không hiểu hết nội hàm của những ảnh hưởng to lớn đối với hình ảnh, nền sản xuất quốc gia. Hơn nữa, bản thân người tiêu dùng trong nước chưa có căn cứ để phân biệt thế nào là hàng “Made in Vietnam”. Việc gian lận ghi nhãn xuất xứ Việt Nam không những gây hậu quả trực tiếp đến sản phẩm cụ thể, ảnh hưởng đến người tiêu dùng mà còn có tác động không nhỏ đến ngành hàng trong nước, làm giảm uy tín và tính cạnh tranh của hàng sản xuất tại Việt Nam.

Việc hoàn thiện quy định về tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước giúp hạn chế xung đột giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời, cơ quan chức năng có căn cứ phân xử. Việc ban hành Nghị định tạo môi trường kinh doanh minh bạch hơn, có công cụ quản lý tốt hơn và quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo hơn. Điều này cũng giúp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của doanh nghiệp, tăng cường quản lý và trách nhiệm bảo vệ thương hiệu, rõ ràng, công khai.

Việc ban hành Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước là cần thiết, bổ trợ Nghị định số 37/2026/NĐCP ngày 23/01/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, giúp giải quyết thực tế phát sinh và đáp ứng xu hướng thương mại quốc tế. Cơ quan chủ trì soạn thảo xác định Nghị định là công cụ tổ chức thực hiện các nhóm quy định tại Luật Thương mại 2005, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi, bổ sung 2025).

Mục đích, quan điểm xây dựng và ban hành Nghị định

Theo Bộ Công Thương, việc xây dựng Nghị định hướng đến các mục đích: Hoàn thiện hệ thống pháp lý về việc xác định tiêu chí xuất xứ Việt Nam một cách minh bạch, có căn cứ, phù hợp pháp luật hiện hành; bổ sung quy định về tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước; ngăn chặn hiệu quả tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; Làm cơ sở để thể hiện xuất xứ hàng hóa trên nhãn, bao bì hàng hóa, quảng cáo hàng hóa, xây dựng thương hiệu, quản lý và tham gia các hoạt động đầu tư, đầu thầu,...; Xây dựng một hệ tiêu chí minh bạch, có tính ứng dụng cao, hiệu quả trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra cũng như phục vụ việc tự xác định xuất xứ và công bố công khai của doanh nghiệp; Tạo cơ sở để doanh nghiệp, cơ quan quản lý xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước; Tăng cường công tác phòng chống gian lận xuất xứ, hạn chế tình trạng giả mạo xuất xứ, bảo vệ uy tín, thương hiệu hàng hóa Việt Nam, ngăn ngừa tình trạng chuyển tải.

Việc nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định được tiến hành trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo chủ yếu: Một là, thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh, củng cố và bảo vệ uy tín hàng hoá của Việt Nam; ngăn chặn gian lận trong việc xác định xuất xứ Việt Nam và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về ghi nhãn đối với hàng hoá lưu thông tại thị trường nội địa. Ba là, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động sản xuất tại Việt Nam, phù hợp với cam kết quốc tế. Bốn là, đảm bảo nâng cao hiệu quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa Việt Nam lưu thông trong nước, phòng chống gian lận xuất xứ.

Bố cục, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định

Về phạm vi điều chỉnh, Nghị định này quy định tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước. Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, thương nhân và cá nhân có hoạt động thương mại trong nước

Về bố cục, Dự thảo Nghị định dự kiến bao gồm 04 Chương, 12 Điều.

Chương I: Quy định chung: Gồm 3 Điều, từ Điều 1 đến Điều 3.

Chương II: Cách xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước: Gồm 5 Điều, từ Điều 4 đến Điều 8.

Chương III: Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, thương nhân, tổ chức, cá nhân liên quan: Gồm 2 Điều, Điều 9 và Điều 10.

Chương IV: Điều khoản thi hành: Gồm 2 Điều, Điều 11& Điều 12.

Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định

Nhằm rà soát, xây dựng các vấn đề pháp lý tạo cơ sở để thương nhân xác định tiêu chí xuất xứ hàng hóa Việt Nam cho hàng lưu thông trong nước trên cơ sở tự nguyện và các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa Việt Nam đối với các mặt hàng cần quản lý, Bộ Công Thương dự thảo các nội dung cơ bản của Nghị định như sau:

a) Tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam

Tại dự thảo Nghị định đã đưa ra quy định để xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam để là cơ sở nguyên tắc thương nhân áp dụng đối với hàng hóa sản xuất hoặc thương mại. Trong trường hợp đối với các diện mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng quản lý chuyên ngành theo đặc thù của các bộ, căn cứ thực tiễn phạm vi quản lý, các bộ chủ động xây dựng quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với các mặt hàng đó.

b) Hàng hóa được xác định có xuất xứ toàn bộ Việt Nam được quy định các trường hợp cụ thể. Việc đưa ra các trường hợp xác định hàng hóa có xuất xứ toàn bộ Việt Nam để làm cơ sở thương nhân sản xuất chủ động công bố sản phẩm sản xuất theo các trường hợp này.

c) Hàng hóa có xuất xứ không toàn bộ Việt Nam Trong trường hợp nguyên liệu đầu vào của sản phẩm không có xuất xứ Việt Nam, hàng hóa vẫn được coi có xuất xứ Việt Nam nhưng không toàn bộ và cách tính để đảm bảo công nhận xuất xứ Việt Nam được thể hiện tại nội dung dự thảo Nghị định. Như vậy đảm bảo quyền lợi công bằng cho tất cả các thương nhân sản xuất, kinh doanh chế biến nội địa khi đáp ứng quy tắc xuất xứ với hàm lượng giá trị Việt Nam là được coi là xuất xứ Việt Nam.

d) Công đoạn gia công, chế biến đơn giản và thành tố không được xem xét khi xác định xuất xứ Việt Nam Dự thảo Nghị định đảm bảo tính công bằng cho các sản phẩm hàng hóa khi không xét đến các công đoạn hoặc thành tố mà không làm thay đổi hàng hóa.

đ) Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức, cá nhân và cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo công tác quản lý nhà nước và thực hiện được đầy đủ theo pháp luật. Dự thảo Nghị định dự kiến quy định việc thể hiện được áp dụng theo nguyên tắc tự nguyện, tự kê khai. Khi cá nhân, tổ chức thể hiện thông tin trên nhãn, hàng hóa bắt buộc phải đáp ứng tiêu chí và phải chứng minh việc đáp ứng tiêu chí đó khi được yêu cầu.

Về thủ tục hành chính, Nghị định không quy định thủ tục hành chính. Thương nhân căn cứ tiêu chí, tự xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước, tự chịu trách nhiệm xác định và có nghĩa vụ chứng minh việc đáp ứng tiêu chí khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Sau khi rà soát, Bộ Công Thương khắng định dự thảo Nghị định không phát sinh thủ tục hành chính mới và không tăng biên chế.

Về phân quyền, phân cấp, do Nghị định không quy định thủ tục hành chính nên không có phân quyền, phân cấp thực hiện thủ tục hành chính. Tại dự thảo Nghị định, Bộ Công Thương xây dựng trên cơ sở hướng dẫn khung pháp lý để các cơ quan quản lý, thương nhân chủ động triển khai.

Kinh nghiệm thế giới về quy định tiêu chí xác định xuất xứ đối với hàng hóa lưu thông trong nước 

Nhìn chung, các nước tiên tiến đều có quy định về tiêu chí xác định xuất xứ để ghi nhãn nước sản xuất và có các điểm chung sau:

- Mục tiêu quản lý: bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ người tiêu dùng.

- Phân loại cách ghi nước sản xuất theo nhóm hàng: xây dựng tiêu chí đối với hai nhóm hàng chính là nhóm hàng nông nghiệp (chủ yếu là thực phẩm) và nhóm hàng công nghiệp/nhóm hàng phi nông nghiệp.

Tiêu chí: hàng hóa được ghi nhãn nước sản xuất khi đáp ứng tiêu chí (1) được sản xuất toàn bộ tại nước đó hoặc (2) công đoạn cuối cùng làm biến đổi bản chất hàng hóa được sản xuất tại nước/ vùng lãnh thổ đó. Các nước quy định khá đa dạng về tiêu chí xác định xuất xứ để thể hiện trên nhãn hàng hóa.

+ Một số nước áp dụng tiêu chí xác định xuất xứ theo quy tắc xuất xứ của nước mình trong khuôn khổ WTO.

+ Liên minh châu Âu (EU) quy định hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại EU khi đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng hóa không ưu đãi và có ngoại lệ đối với dược phẩm (theo quy định tại Bộ luật Liên minh Hải quan (Union Customs Code - UCC).

+ Hoa Kỳ quy định hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Hoa Kỳ khi có công đoạn sản xuất cuối cùng tạo nên bản chất hàng hóa tại Hoa Kỳ (theo Đạo luật của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ - Federal Trade Comission FTC).

+ Một số nước quy định tiêu chí cho từng sản phẩm cụ thể đối với mặt hàng cần bảo hộ hoặc đã xây dựng được thương hiệu mang tầm quốc tế. Ví dụ quy định của Thụy Sỹ đối với đồng hồ, quy định của Hoa Kỳ đối với ô tô, hàng dệt may và len, quy định của Niu Di-lân đổi với rượu vang,...

- Nguyên tắc áp dụng: hầu hết các nước cho phép áp dụng trên cơ sở tự nguyện đối với hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước. Một khi hàng hóa đã ghi nhãn nước sản xuất thì bắt buộc phải đáp ứng tiêu chí và điều kiện theo quy định.