Văn bản hợp nhất số 35/VBHN-BCT do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài ký ngày 26/5/2026 quy định về mẫu đơn đề nghị, mẫu Giấy phép và các mẫu bảng kê liên quan đến việc cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại Giấy phép bao gồm: Giấy phép chế biến nguyên liệu thuốc lá, Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá. Đồng thời, hướng dẫn chế độ, biểu mẫu báo cáo; danh mục thiết bị chuyên ngành thuốc lá; hướng dẫn biểu mẫu đăng ký nhu cầu nhập khẩu giấy cuốn điếu thuốc lá, sợi thuốc lá, nguyên liệu lá thuốc lá và quy định về kiểm tra các hoạt động trong kinh doanh thuốc lá.

Bộ Công Thương hợp nhất các thông tư quy định chi tiết một số điều của các Nghị định liên quan đến kinh doanh thuốc lá
Bộ Công Thương vừa ban hành Văn bản hợp nhất các thông tư quy định chi tiết một số điều của các Nghị định liên quan đến kinh doanh thuốc lá (Ảnh minh họa: Internet)

Thông tư áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá và các hoạt động khác có liên quan đến kinh doanh thuốc lá trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo Thông tư, việc nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá, giấy cuốn điếu thuốc lá được quy định như sau: căn cứ vào lượng hạn ngạch thuế quan hàng năm, sản lượng sản xuất của doanh nghiệp, khả năng đáp ứng nguyên liệu trong nước và nhu cầu đăng ký của doanh nghiệp để sản xuất sản phẩm thuốc lá tiêu thụ trong nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ xem xét chấp thuận cho doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu thuốc lá, giấy cuốn điếu thuốc lá đúng mục đích không trao đổi, mua bán dưới mọi hình thức. Doanh nghiệp gửi hồ sơ đăng ký theo mẫu Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư này.

Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá, giấy cuốn điếu thuốc lá để sản xuất sản phẩm thuốc lá xuất khẩu hoặc gia công xuất khẩu sản phẩm thuốc lá gửi đơn đăng ký theo mẫu Phụ lục số 2 kèm theo Thông tư này gửi về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá để chế biến nguyên liệu thuốc lá xuất khẩu hoặc gia công chế biến nguyên liệu thuốc lá xuất khẩu gửi đơn đăng ký theo mẫu Phụ lục số 3 kèm theo Thông tư này gửi về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Về kiểm tra, Thông tư quy định như sau:

Việc kiểm tra định kỳ sẽ căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu kiểm tra việc chấp hành pháp luật về kinh doanh thuốc lá đối với từng tổ chức, cá nhân cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ hàng năm.

Kế hoạch kiểm tra định kỳ hàng năm phải có những nội dung chủ yếu sau: Mục đích, yêu cầu kiểm tra; đối tượng và phạm vi cần kiểm tra; các nội dung cần kiểm tra; thời gian, địa điểm tiến hành kiểm tra; kinh phí kiểm tra; lực lượng kiểm tra; phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm tra; chế độ báo cáo. Trước khi kiểm tra cơ quan điểm tra phải thông báo kế hoạch kiểm tra cho tổ chức, cá nhân chậm nhất 15 ngày trước ngày kiểm tra.

Cơ quan kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra đột xuất trong các trường hợp sau đây:

(i) Khi phát hiện tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá vi phạm các quy định của pháp luật về kinh doanh thuốc lá và quy định của pháp luật có liên quan.

(ii) Thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng có giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, thông tin từ đơn thư khiếu nại tố cáo hoặc tin báo của tổ chức, cá nhân.

(iii) Theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên có thẩm quyền.

(iv) Cơ quan kiểm tra không cần phải thông báo trước kế hoạch kiểm tra cho tổ chức, cá nhân.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá có trách nhiệm phối hợp với Đoàn kiểm tra, cơ quan kiểm tra trong quá trình kiểm tra hoạt động kinh doanh thuốc lá tại nơi kiểm tra; cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc lá theo quy định tại Điều 18 của Thông tư này.

Chấp hành các hoạt động kiểm tra của cơ quan kiểm tra, Đoàn kiểm tra và các quyết định xử lý vi phạm của cơ quan có thẩm quyền.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá thực hiện báo cáo: (a) Tình hình khắc phục các lỗi vi phạm trong quá trình kinh doanh đến cơ quan kiểm tra; và (b) Tình hình chấp hành các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh thuốc lá khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài ra, duy trì các điều kiện đảm bảo hoạt động kinh doanh thuốc lá theo quy định của pháp luật. Khắc phục các lỗi không đạt được nêu trong biên bản kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra, Đoàn kiểm tra.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá có quyền khiếu nại kết luận của Đoàn kiểm tra theo quy định của pháp luật.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 19/2/2019 trừ quy định tại khoản 2 Điều này.

Quy định về mẫu đơn, bảng kê đề nghị cấp Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá và mẫu Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá của Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2028.

Bãi bỏ Thông tư số 21/2013/TT-BCT ngày 25/9/2013 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 67/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, trừ quy định tại khoản 4 Điều này.

Quy định về mẫu đơn, bảng kê đề nghị cấp Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá và mẫu Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá của Thông tư số 21/2013/TT-BCT được tiếp tục áp dụng đến hết ngày 31/12/2027.

Trong quá trình thực hiện, đề nghị các cá nhân, tổ chức phản ánh kịp thời khó khăn, vướng mắc về Bộ Công Thương để Bộ Công Thương giải quyết và xem xét điều chỉnh Thông tư theo thẩm quyền.

Chi tiết, xem tại đây.