Văn bản hợp nhất số 106/2026/VBHN-TT-BCT hợp nhất các quy định tại Thông tư số 33/2023/TT-BCT ngày 21/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn sản phẩm vật liệu nổ công nghiệp - kíp nổ vi sai phi điện trên mặt dùng cho lộ thiên, mỏ hầm lò, công trình ngầm không có khí bụi nổ và những nội dung sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 45/2026/TT-BCT ngày 28/8/2026 ban hành các Sửa đổi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vật liệu nổ công nghiệp, Quyết định số 2312/QĐ-BCT ngày 14/9/2026 của Bộ Công Thương đính chính Thông tư số 45/2026/TT-BCT.
Theo đó, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-21:2023/BCT quy định các chỉ tiêu kỹ thuật, phương pháp thử và yêu cầu quản lý đối với kíp nổ vi sai phi điện trên mặt dùng cho lộ thiên, mỏ hầm lò, công trình ngầm không có khí bụi nổ, có mã HS 3603.40.00.
Quy chuẩn áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến sản phẩm này trên lãnh thổ Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Ảnh: Báo Đại Đoàn Kết
Quy định về yêu cầu kỹ thuật và quản lý chất lượng sản phẩm kíp nổ vi sai phi điện trên mặt
Theo QCVN 12-21:2023/BCT, kíp nổ vi sai phi điện trên mặt phải đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật quy định tại Điều 5 của quy chuẩn, bao gồm cường độ nổ, kích thước sản phẩm, đặc tính của dây dẫn tín hiệu nổ, độ bền mối ghép miệng, khả năng chịu nước, thời gian giữ chậm và khả năng chịu chấn động.
Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm được thực hiện theo các phương pháp thử quy định tại quy chuẩn. Quá trình thử nghiệm phải tuân thủ yêu cầu về an toàn tại QCVN 01:2019/BCT. Các phương tiện đo sử dụng trong thử nghiệm phải được kiểm định, hiệu chuẩn theo quy định của pháp luật về đo lường.
Bên cạnh các yêu cầu kỹ thuật, quy chuẩn quy định việc bao gói, bảo quản và ghi nhãn sản phẩm. Theo đó, kíp nổ vi sai phi điện trên mặt được bao gói trong hộp giấy, túi PE và bảo quản trong hòm gỗ hoặc hộp carton theo QCVN 01:2019/BCT và quy định của pháp luật hiện hành về bao gói vật liệu nổ công nghiệp.
Việc ghi nhãn sản phẩm thực hiện theo khoản 1 Điều 10 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 9/11/2021 và QCVN 01:2019/BCT.
Đối với công tác quản lý chất lượng, Điều 8 của quy chuẩn quy định kíp nổ vi sai phi điện trên mặt phải được công bố hợp quy phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật tại Điều 5, gắn dấu hợp quy (dấu CR) và ghi nhãn hàng hóa trước khi lưu thông trên thị trường.
Việc ghi nhãn sản phẩm thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/1/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường được thực hiện theo khoản 3 Điều 69 của Nghị định này.
Quy định về công bố, chứng nhận hợp quy và trách nhiệm thực hiện
Theo Điều 9 của quy chuẩn, việc công bố hợp quy đối với kíp nổ vi sai phi điện trên mặt được thực hiện theo quy định tương ứng với sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu.
Cụ thể, sản phẩm sản xuất trong nước thực hiện công bố hợp quy theo điểm a khoản 2 Điều 66 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP. Đối với sản phẩm nhập khẩu, việc công bố hợp quy thực hiện theo khoản 2 Điều 34 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15.
Về chứng nhận hợp quy, kíp nổ vi sai phi điện trên mặt sản xuất trong nước và nhập khẩu được chứng nhận theo phương thức 5 hoặc phương thức 7, quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN ngày 9/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Trong đó, phương thức 5 kết hợp thử nghiệm mẫu đại diện với đánh giá quá trình sản xuất hoặc hệ thống quản lý và thực hiện giám sát; phương thức 7 là hình thức chứng nhận thông qua thử nghiệm, đánh giá lô sản phẩm, hàng hóa.
Đối với trường hợp chứng nhận theo phương thức 5, hoạt động đánh giá giám sát được thực hiện trong thời gian giấy chứng nhận hợp quy còn hiệu lực. Thời điểm đánh giá giám sát lần đầu không vượt quá 12 tháng kể từ khi giấy chứng nhận bắt đầu có hiệu lực; các lần tiếp theo không vượt quá 24 tháng kể từ thời điểm kết thúc lần đánh giá trước đó.
Việc sử dụng dấu hợp quy phải tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN.
Về trách nhiệm thực hiện, tổ chức sản xuất, kinh doanh kíp nổ vi sai phi điện trên mặt phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và bảo đảm chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Tổ chức sản xuất, nhập khẩu có trách nhiệm đăng ký bản công bố hợp quy theo khoản 2 Điều 37 Nghị định số 22/2026/NĐ-CP ngày 16/1/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chuẩn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy theo quy định; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các thủ tục công bố hợp quy và việc tuân thủ quy định về quản lý chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp trên địa bàn.
Quy định chuyển tiếp đối với sản phẩm kíp nổ vi sai phi điện trên mặt dùng cho lộ thiên, mỏ hầm lò, công trình ngầm không có khí bụi nổ đã được công bố hợp quy theo QCVN 07:2012/BCT trước ngày 1/7/2024. Các sản phẩm này được tiếp tục sử dụng theo thời hạn sử dụng đã được công bố.
Thông tư số 33/2023/TT-BCT và QCVN 12-21:2023/BCT có hiệu lực từ ngày 1/7/2024. Các nội dung sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 45/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.
Chi tiết Văn bản hợp nhất, xem tại đây
