Đề án "Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045" (sau đây gọi tắt là Đề án) được phê duyệt với mục tiêu tổng quát là phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam trở thành thị trường có tổ chức, vận hành minh bạch, an toàn, hiệu quả và có thanh khoản phù hợp, gắn kết chặt chẽ với thị trường hàng hóa vật chất, phục vụ chủ yếu nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu. Thị trường được phát triển trên cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bao gồm hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ, kho bãi, giao nhận, kiểm định chất lượng và logistics; có cơ chế quản trị rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế, từng bước hình thành giá tham chiếu tin cậy đối với một số hàng hóa chủ lực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Đến năm 2030, thị trường cơ bản hình thành cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, nâng cao mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước, tăng khả năng sử dụng các công vụ phòng ngừa rủi ro giá và từng bước giảm sự phụ thuộc vào các thị trường giao dịch nước ngoài.

Bộ Công Thương phê duyệt Đề án Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam
Thứ trưởng Nguyễn Việt Sơn ký ban hành Quyết định của Bộ Công Thương phê duyệt Đề án "Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045" (Ảnh minh họa)

Định hướng đến năm 2045, thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống thị trường tài chính và thương mại quốc gia, có mức độ kết nối cao với khu vực và thế giới thông qua liên thông hạ tầng giao dịch, thanh toán bù trừ, chia sẻ dữ liệu và hợp tác với các Sở giao dịch hàng hóa quốc tế; đồng thời tiệm cận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong quản lý, giám sát và vận hành thị trường.

Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh thống nhất, đồng bộ toàn bộ hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh

Đề án đặt mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, về khuôn khổ pháp lý, hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh thống nhất, đồng bộ toàn bộ hoạt động giao dịch hàng hóa phái sinh theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế; bao quát đầy đủ các hình thức giao dịch, bảo đảm minh bạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, giám sát thị trường và kiểm soát rủi ro.

Về hạ tầng thị trường, hoàn thiện và vận hành đồng bộ hạ tầng thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả, bao gồm hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ, kho bãi, giao nhận và hạ tầng dữ liệu thị trường. Hình thành cơ chế thanh toán bù trừ tập trung phù hợp với chuẩn mực quốc tế; nâng cao năng lực quản trị rủi ro, khả năng giám sát và cảnh báo sớm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và các giải pháp công nghệ trong quản lý, vận hành và giám sát thị trường.

Về phát triển sản phẩm và quy mô thị trường, mở rộng và chuẩn hóa các sản phẩm giao dịch, ưu tiên các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh và có xuất xứ Việt Nam; phấn đấu phát triển khoảng 10 mặt hàng nội địa được giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa. Từng bước hình thành giá tham chiếu trong nước đối với từ 3 đến 5 mặt hàng chủ lực, góp phần nâng cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị và thị trường hàng hóa khu vực. Phấn đấu đến năm 2030, khối lượng giao dịch trên thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh đạt khoảng 8-10 triệu hợp đồng/năm.

Về phát triển chủ thể tham gia thị trường, mở rộng và đa dạng hóa chủ thể tham gia thị trường; khuyến khích, hỗ trợ các cá nhân, hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia giao dịch hàng hóa phái sinh, đặc biệt đối với các mặt hàng nông sản, đặc sản có lợi thế của Việt Nam nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro giá và tăng chiều sâu của thị trường.

Về hội nhập quốc tế, từng bước nghiên cứu và niêm yết các hợp đồng hàng hóa có xuất xứ Việt Nam trên thị trường quốc tế và ngược lại trong trường hợp đáp ứng đủ điều kiện phù hợp, trên cơ sở hợp tác bình đẳng, đôi bên cùng có lợi; phấn đấu có khoảng 1-2 hợp đồng được giao dịch liên thông trên các Sở giao dịch hàng hóa quốc tế. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế, từng bước cho phép thị trường quốc tế tham gia các hoạt động giao dịch hàng hóa Việt Nam trên thị trường tập trung có kiểm soát, mở rộng kết nối với thị trường khu vực và toàn cầu, thu hút ngoại tệ phù hợp với định hướng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Định hướng đến năm 2045, phấn đấu đưa thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh Việt Nam trở thành một trong những thị trường có quy mô và mức độ kết nối cao trong khu vực Đông Nam Á; vận hành đầy đủ, hiện đại, gắn chặt với thị trường hàng hóa thực; khung pháp lý và quản trị rủi ro tiệm cận chuẩn mực quốc tế. 

Thị trường phát triển bền vững, theo chiều sâu, trong đó sản phẩm giao dịch hàng hóa được phép thực hiện hoạt động giao nhận vật chất, phái sinh hoặc giao ngay và doanh nghiệp am hiểu, tham gia sử dụng hoạt động giao dịch phòng ngừa rủi ro thường xuyên và chủ động, đa dạng công cụ.

Hình thành 3-5 mặt hàng chủ lực của Việt Nam có vai trò tham chiếu giá trong nước và tham gia định hình giá khu vực.

Đồng thời, tăng cường kết nối và hội nhập quốc tế, thúc đẩy giao dịch liên thông và nâng cao vị thế của thị trường Việt Nam trong khu vực.

Thị trường giao dịch hàng hóa được tổ chức theo mô hình thống nhất

Theo Đề án, cấu trúc thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh được tổ chức theo mô hình thống nhất, bao gồm thị trường giao dịch tập trung và thị trường giao dịch phi tập trung (OTC), phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ; bảo đảm sự liên thông, bổ trợ giữa các cấu phần của thị trường, hiệu quả hoạt động và kiểm soát rủi ro.

Trong đó, thị trường giao dịch tập trung qua Sở giao dịch hàng hóa đóng vai trò trung tâm trong tổ chức giao dịch, hình thành giá và cung cấp thanh khoản cho thị trường.

Thị trường OTC được phát triển phù hợp với nhu cầu phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp; từng bước chuẩn hóa và đưa vào khuôn khổ quản lý thông qua cơ chế báo cáo giao dịch, quản trị rủi ro đối tác, công bố thông tin và giám sát phù hợp với mức độ phát triển của thị trường.

Cấu trúc thị trường được phát triển đồng bộ với hệ thống kho bãi, giao nhận hàng hóa, kiểm định chất lượng, thanh toán bù trừ, cơ sở dữ liệu thị trường và hạ tầng số nhằm tăng cường liên kết giữa giao dịch hàng hóa phái sinh với giao dịch hàng hóa vật chất, giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế.

Hàng hóa giao dịch trên thị trường được lựa chọn theo nguyên tắc chuẩn hóa, có thị trường giao dịch và mua bán quy mô lớn, biến động giá cao và nhu cầu giao dịch mua bán vật chất tập trung hoặc phòng ngừa rủi ro rõ rệt. Các sản phẩm này chủ yếu được giao dịch trên Sở giao dịch hàng hóa nhằm bảo đảm minh bạch và thanh khoản; đồng thời, một số sản phẩm phù hợp có thể được giao dịch trên thị trường OTC theo quy định pháp luật.

Trên cơ sở nhu cầu thị trường, lợi thế của Việt Nam, khả năng chuẩn hóa, điều kiện hạ tầng và quy định của pháp luật, ưu tiên nghiên cứu phát triển sản phẩm đối với một số nhóm hàng hóa sau:

Nhóm năng lượng: dầu thô, xăng dầu thành phẩm, khí tự nhiên (LNG), khí hóa lỏng (LPG), nhiên liệu bay và các chế phẩm khác, than, điện năng;

Nhóm nguyên liệu đầu vào: quặng sắt, thép cuộn cán nóng (HRC), phế liệu sắt thép, cao su, bông, ngô, đậu tương;

Nhóm kim loại: bạc, niken, đồng, thiếc, kẽm và các kim loại quan trọng khác;

Nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực: cà phê, hồ tiêu, điều, gạo;

Nhóm hàng hóa thiết yếu gắn với giao nhận vật chất.

Danh mục hàng hóa được phát triển theo lộ trình, phù hợp với năng lực hạ tầng thị trường, khả năng tổ chức giao nhận hàng hóa và yêu cầu quản lý, đối với trường hợp có giao nhận vật chất cần ưu tiên thực hiện theo đúng cam kết, và tuân thủ các quy định quản lý pháp luật có liên quan. Đối với nhóm hàng hóa khác, cần có lộ trình phù hợp hoặc thực hiện cơ chế thí điểm, thử nghiệm sản phẩm, mô hình mới có kiểm soát (sandbox), sau đó đánh giá, hoàn thiện và đề xuất áp dụng.

Chủ thể tham gia thị trường bao gồm các thiết chế của thị trường tập trung và thị trường OTC, gồm: Sở giao dịch hàng hóa; thành viên (kinh doanh, môi giới, tự doanh, lưu ký và giao nhận, nhà tạo lập thị trường,...); trung tâm thanh toán bù trừ; doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu; tổ chức tài chính, nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; và các tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ.

Các chủ thể tham gia thị trường theo quy định pháp luật, bảo đảm minh bạch, an toàn; trong đó, giao dịch qua Sở giao dịch là nền tảng, giao dịch OTC được quản lý phù hợp nhằm hạn chế rủi ro hệ thống và bảo đảm ổn định thị trường.

Sở giao dịch hàng hóa thực hiện tổ chức và vận hành thị trường giao dịch tập trung

Về hệ thống giao dịch, công bố thông tin và giám sát thị trường, thị trường được tổ chức giao dịch tập trung trên Sở giao dịch hàng hóa thông qua hệ thống điện tử hiện đại, bảo đảm công khai, minh bạch và liên tục; đồng thời thiết lập cơ chế quản lý, giám sát phù hợp đối với giao dịch OTC.

Thiết lập hệ thống đăng ký, quản lý tập trung đối với thành viên, nhà đầu tư và vị thế giao dịch. Thực hiện công bố thông tin đầy đủ về giá, khối lượng giao dịch và các chỉ số thị trường. Xây dựng hệ thống giám sát giao dịch theo thời gian thực, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, thao túng thị trường. Đồng thời, từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Sở giao dịch, cơ quan quản lý và các chủ thể liên quan; nghiên cứu khả năng kết nối với thị trường quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Về tổ chức quản lý và vận hành thị trường, Sở giao dịch hàng hóa thực hiện tổ chức và vận hành thị trường giao dịch tập trung, ban hành quy chế giao dịch và thực hiện giám sát tuyến đầu. Trung tâm thanh toán bù trừ thực hiện quản lý ký quỹ, thanh toán bù trừ, kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống.

Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý, giám sát đối với toàn bộ thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh, bao gồm cả thị trường tập trung và thị trường OTC; ban hành cơ chế, chính sách; kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định.

Mô hình tổ chức thị trường được xây dựng theo hướng phân định rõ chức năng giữa quản lý nhà nước - vận hành thị trường - giám sát giao dịch, bảo đảm không chồng chéo, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam; đồng thời bảo đảm tính tập trung, thống nhất của thị trường và hạn chế phân mảnh thanh khoản.

Về lộ trình phát triển thị trường:

Giai đoạn 2026 - 2027, xây dựng nền tảng thị trường Hình thành bước đầu cấu trúc thị trường thống nhất, lấy Sở giao dịch hàng hóa làm trung tâm, đồng thời thiết lập các cấu phần nền tảng như hệ thống thanh toán bù trừ, cơ chế giám sát giao dịch và quản lý rủi ro.

Tổ chức vận hành thị trường giao dịch gắn với hàng hóa vật chất, ưu tiên các mặt hàng có khả năng chuẩn hóa cao.

Triển khai niêm yết các hợp đồng hàng hóa có xuất xứ Việt Nam và có dung lượng thị trường nội địa lớn (ví dụ cà phê, gạo, cao su, bạc,...) đã có sản phẩm tương tự liên thông quốc tế chuẩn hóa điều kiện giao dịch, tiêu chuẩn hàng hóa, quy trình giao nhận và thanh toán theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.

Triển khai niêm yết sản phẩm liên thông gồm các sản phẩm về năng lượng (ví dụ xăng, dầu, khí...) nhằm cung cấp bảo hiểm giá cho các đơn vị trong nước làm tiền đề triển khai các sản phẩm năng lượng trong nước.

Mở rộng hợp tác với các Sở giao dịch hàng hóa quốc tế, tạo môi trường giao dịch có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường, cơ sở dữ liệu giao dịch và công cụ giám sát, cảnh báo rủi ro, phục vụ quản lý và vận hành thị trường.

Giai đoạn 2028 - 2030, phát triển và hoàn thiện thị trường. Đánh giá hiệu quả vận hành của các cơ chế, chủ thể để đúc rút kinh nghiệm, qua đó có giải pháp nâng cao năng lực vận hành của các chủ thể tham gia thị trường như trung tâm thanh toán bù trừ, thành viên lưu ký và giao nhận, nhà tạo lập thị trường...

Hoàn thiện, phát triển các hợp đồng hàng hóa có xuất xứ Việt Nam với mức độ chuẩn hóa đã triển khai ở giai đoạn 2026-2027; qua đó từng bước hình thành và củng cố giá tham chiếu trong nước đối với một số mặt hàng chủ lực, phù hợp mục tiêu đến năm 2030.

Mở rộng danh mục hàng hóa giao dịch, tập trung vào các nhóm hàng hóa có quy mô lớn, liên thông xuất khẩu và niêm yết những sản phẩm đặc thù, có thế mạnh riêng của Việt Nam nhưng chưa niêm yết trên thế giới, bảo đảm gắn với giao nhận hàng hóa thực.

Triển khai niêm yết các sản phẩm năng lượng trong nước (điện, dầu khí...).

Mở rộng kết nối và liên thông quốc tế, từng bước tham gia vào chuỗi giao dịch khu vực; nghiên cứu niêm yết hợp đồng Việt Nam trên thị trường quốc tế khi đủ điều kiện.

Cùng với đó, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, công bố thông tin và hệ thống giám sát theo thời gian thực, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý, vận hành và phân tích thị trường.

Giai đoạn từ năm 2030, hoàn thiện, hội nhập và phát triển chiều sâu. Vận hành thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh ổn định, đồng bộ với thị trường hàng hóa vật chất, bảo đảm khả năng chuyển đổi linh hoạt giữa giao dịch tài chính và giao nhận thực.

Hoàn thiện cấu trúc thị trường theo chuẩn mực quốc tế, bao gồm Sở giao dịch hàng hóa, trung tâm thanh toán bù trừ độc lập và hệ thống giám sát đa tầng, bảo đảm an toàn hệ thống.

Phát triển thị trường theo chiều sâu, đa dạng hóa sản phẩm giao dịch (bao gồm hợp đồng phái sinh truyền thống và các sản phẩm mới như hàng hóa xanh, tín chỉ các-bon, sản phẩm gắn với chuyển đổi năng lượng) và mở rộng các hàng hóa khác phù hợp đáp ứng nhu cầu thị trường mua bán và phòng vệ rủi ro của thị trường.

Nâng cao mức độ hội nhập quốc tế, từng bước tham gia vào cơ chế hình thành giá khu vực đối với một số mặt hàng có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.

Tăng cường kết nối với hệ thống tài chính quốc gia và cấu phần tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, mở rộng vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực.

Đồng thời, từng bước khẳng định vị thế, đưa Việt Nam trở thành trung tâm giao dịch hàng hóa phái sinh có vai trò trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, phù hợp với định hướng đến năm 2045.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (ngày 28/9/2026).

Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Chi tiết, xem tại đây.