Theo đó, thảo luận tại Tổ 11 (gồm các đại biểu Quốc hội Đoàn TP Hải Phòng và tỉnh Quảng Ngãi), các đại biểu Quốc hội đánh giá việc sửa đổi Luật là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành dầu khí trong bối cảnh mới, đồng thời góp phần hoàn thiện thể chế, bảo đảm an ninh năng lượng và phù hợp với quá trình chuyển dịch năng lượng. Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến trao đổi về các nội dung như: mối quan hệ giữa dự án năng lượng ngoài khơi và Quy hoạch không gian biển quốc gia; hài hòa giữa phát triển công nghiệp dầu khí với bảo tồn di sản văn hóa Việt; quy định về hoạt động thu giữ, lưu trữ Carbon (CCS)…
Động lực triển khai xây dựng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi)
Phát biểu thảo luận tại Tổ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, việc xây dựng dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được triển khai dựa trên cơ sở các định hướng lớn của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Bộ Công Thương - cơ quan chủ trì soạn thảo đã triển khai công tác xây dựng dự thảo Luật theo đúng quy định của pháp luật, cơ bản dựa trên Luật Dầu khí năm 2022.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, Luật Dầu khí năm 2022 ban hành đúng thời điểm và có nhiều tiến bộ, nhưng trước yêu cầu của thực tiễn phát triển và mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn mới, việc sửa đổi là bắt buộc nhằm đáp ứng các yêu cầu: Thứ nhất, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ kéo theo nhu cầu năng lượng tăng mạnh; Thứ hai, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước về yêu cầu tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền; Thứ ba, sau nhiều năm khai thác, nhiều mỏ và lô dầu khí đang bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng với tốc độ nhanh. Trong khi đó, tiềm năng dầu khí ở các khu vực nước sâu, xa bờ có điều kiện khai thác khó khăn, phức tạp hơn, nên cần có chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút đầu tư; Thứ tư, xu hướng chuyển dịch năng lượng cũng là động lực quan trọng cho việc sửa đổi luật. Việt Nam đã tham gia cùng các quốc gia khác cam kết lộ trình phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này có nhiều điểm mới cốt lõi, tập trung vào việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, đổi mới mô hình quản trị và hoàn thiện chính sách ưu đãi cho hoạt động dầu khí. Đồng thời khẳng định, Dự thảo cơ bản bảo đảm các yêu cầu về cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn.
Việc điều chỉnh 5 nhóm chính sách trong Dự thảo với 12 Chương, 62 Điều nhằm bảo đảm hoạt động dầu khí được triển khai nhanh hơn và giảm đáng kể thủ tục so với trước đây. Dự thảo cũng mở rộng phạm vi áp dụng đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và mỏ tận thu - những đối tượng rất khó phát triển trong điều kiện thông thường, qua đó tạo điều kiện tăng sản lượng dầu khí phục vụ phát triển đất nước và tăng nguồn thu ngân sách nhà nước.
Giải đáp các vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm
Giải đáp thêm về các nội dung ĐBQH thảo luận tại Tổ về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Công Thương đã làm rõ nhiều nhóm vấn đề:
Đối với ý kiến về cơ chế đối với mỏ tận thu, Dự thảo Luật quy định phải thực hiện bước mời các nhà đầu tư khác tham gia trước, thay vì giao ngay cho Petrovietnam. Làm rõ nội dung này, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, đây là giải pháp đã được tính toán rất tối ưu, nhằm tiếp tục tạo cơ hội cho các nhà thầu dầu khí khác tham gia đầu tư, đồng thời tận dụng nguồn lực từ các nhà thầu.
Liên quan đến vấn đề an toàn dầu khí ngoài khơi, có đại biểu cho rằng, quy định về vùng an toàn xung quanh công trình dầu khí được đánh giá là khá chung chung và có tính tùy nghi so với các công trình trên biển. Bộ trưởng cho biết, dự thảo quy định vùng an toàn 500m được tính từ rìa công trình về mọi phía, bao gồm cả phương tiện nổi để thả neo. Đối với khoảng cách 2 hải lý, phạm vi được tính từ rìa công trình, kể cả công trình ngầm. Theo đó,“quy định này nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động dầu khí ngoài khơi và phù hợp với thông lệ quốc tế”, Bộ trưởng thông tin.
Về quyền tham gia và chuyển nhượng của nhà thầu dầu khí, Bộ trưởng đồng tình vì việc này liên quan trực tiếp đến bảo đảm an ninh quốc gia. Bộ trưởng cho biết, theo quy định tại dự thảo luật, Petrovietnam có quyền ưu tiên mua trước khi nhà thầu thực hiện chuyển nhượng quyền và lợi ích trong hợp đồng dầu khí. Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng có quyền tham gia ngay sau khi kế hoạch phát triển mỏ đại cương được phê duyệt. Với cơ chế này, Nhà nước vẫn kiểm soát được quá trình chuyển nhượng trong các hợp đồng dầu khí.
Bên cạnh đó, liên quan đến cơ chế chia sẻ lợi ích với các địa phương về tài nguyên dầu khí, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho rằng, dự thảo luật đã quy định rõ dầu khí là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý; đồng thời quyền phân bổ và quyết định việc sử dụng nguồn lực này thuộc thẩm quyền của Nhà nước. Hơn nữa, hiện nay các doanh nghiệp hoạt động dầu khí trên địa bàn các địa phương đều thực hiện nghĩa vụ thuế tại địa phương nơi hoạt động. Đối với phần phân bổ tiếp theo từ ngân sách nhà nước để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương thì thuộc thẩm quyền quyết định của Nhà nước.“Cơ quan soạn thảo sẽ tổng hợp và báo cáo các kiến nghị, nguyện vọng của địa phương. Bộ Công Thương và Petrovietnam đều ủng hộ việc xem xét các đề xuất này”, Bộ trưởng cho hay.
Liên quan đến ý kiến về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa, bảo vật và cổ vật, Bộ Công Thương - cơ quan soạn thảo hoàn toàn tiếp thu ý kiến và khẳng định nội dung này đã được nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật.
Đối với ý kiến về phát triển năng lượng ngoài khơi như điện gió ngoài khơi và hydrogen, theo Bộ trưởng, các nội dung chi tiết sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về điện lực khi xây dựng Luật Điện lực, trong đó Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì xây dựng cả hai Dự án Luật này.
Về phát triển các dự án thu giữ và lưu trữ CO2 (CCS), Bộ trưởng cho biết hoạt động dầu khí hiện đang đóng góp ngân sách ở mức rất cao, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp ở các mức 25%, 32% và 50%, chưa kể thuế tài nguyên và thuế xuất khẩu. Vì vậy cần có cơ chế phù hợp để thúc đẩy đầu tư vào các hoạt động dầu khí, đặc biệt là các dự án CCS.
Bộ trưởng cũng cho biết, diện tích sử dụng thực tế của các công trình dầu khí trên biển là hữu hạn, chủ yếu tập trung trong phạm vi bán kính 500m quanh công trình và khu vực thả neo trong phạm vi 2 hải lý; ngoài phạm vi này các hoạt động khác vẫn diễn ra bình thường. Do đó, việc miễn tiền sử dụng mặt biển đối với các công trình dầu khí được đánh giá là phù hợp và tương thích với thông lệ quốc tế.
Đối với hoạt động CCS, Bộ trưởng nhấn mạnh đây là lĩnh vực cần được khuyến khích vì có thể tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn kiệt, các cấu trúc rỗng và vỉa rỗng đáp ứng điều kiện lưu trữ carbon. Đại biểu đồng tình với quan điểm cần có cơ chế hỗ trợ, trong đó có hỗ trợ hệ thống đường ống và công trình phục vụ hoạt động thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho rằng, hiện nay công nghệ sử dụng CO2 còn hạn chế, song trong tương lai khi khoa học công nghệ phát triển, CO2 có thể trở thành một loại tài nguyên mới. Dịch vụ CCS không chỉ là hoạt động kỹ thuật đơn lẻ mà có thể hình thành một thị trường; nếu phát triển tốt, Việt Nam có khả năng cung cấp dịch vụ này cho cả khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, việc tiếp tục có các giải pháp hỗ trợ, trong đó có miễn tiền sử dụng mặt biển đối với công trình CCS tương tự công trình dầu khí, là cần thiết và nên được khuyến khích.
Đối với vấn về tăng trưởng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, theo Bộ trưởng, hoạt động thu giữ và lưu trữ CO2 (CCS) chính là giải pháp góp phần giảm phát thải khí nhà kính và phù hợp với xu hướng tăng trưởng xanh. Đây là một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), thể hiện định hướng ứng dụng công nghệ cao, phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao gắn với quá trình chuyển dịch năng lượng.
Liên quan đến ý kiến về sự đồng bộ giữa Luật Dầu khí và Luật Doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng phân tích, theo quy định thẩm quyền sử dụng vốn và quyết định đầu tư, dự thảo luật đã quy định rõ tính đặc thù của hoạt động dầu khí. Theo đó, việc phê duyệt ODP được xác định tương đương với phê duyệt báo cáo tiền khả thi (nếu có), còn phê duyệt FDP tương đương với phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi chi tiết. Vì vậy, thẩm quyền quyết định đầu tư và quyết định sử dụng vốn được thiết kế tương ứng và đã được quy định ngay trong dự thảo luật.
Ngoài ra, theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, việc góp vốn của Petrovietnam trong quá trình thực hiện hợp đồng dầu khí được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dầu khí đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Căn cứ ODP và FDP, các nhà thầu dầu khí thực hiện gọi vốn và giải ngân theo đúng quy định của hợp đồng dầu khí, bảo đảm quản lý chặt chẽ.
Về quản lý rủi ro, kế toán và kiểm toán, Dự thảo luật đã dành một chương riêng quy định về kế toán và kiểm toán đối với hoạt động dầu khí. Hoạt động dầu khí được hạch toán theo hợp đồng dầu khí trên nguyên tắc xác định chi phí, bao gồm thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu và chi phí được thu hồi; sau đó mới xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là đặc thù của cơ chế tài chính dầu khí, do đó có trường hợp doanh nghiệp không có lợi nhuận nhưng vẫn nộp ngân sách ở mức cao. Theo đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, các nội dung nêu trên phù hợp với quy định hiện hành và phản ánh đặc thù quản trị của lĩnh vực dầu khí.
