Thông tin do Cục Thống kê công bố sáng 03/5/2026 cho thấy, trong bối cảnh kinh tế và thị trường thế giới nhiều biến động phức tạp, kinh tế Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục khởi sắc với những điểm sáng nổi bật.
Sản xuất công nghiệp tăng ở cả 34 địa phương
Sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2026 ước tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; ngành khai khoáng tăng 7,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9%, đóng góp 7,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,0%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 20,6%; sản xuất kim loại tăng 18,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 17,0%; sản xuất đồ uống tăng 15,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và dệt cùng tăng 9,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,4%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao như: Ninh Bình tăng 30,5%; Phú Thọ tăng 27,9%; Hà Tĩnh tăng 24,2%; Nghệ An tăng 20,2%; Bắc Ninh tăng 19,3%. Bên cạnh đó, một số địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao so với cùng kỳ trước như: Lai Châu tăng 52,2%; Sơn La tăng 50,1%; Hà Tĩnh tăng 24,7%...
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định
Sản xuất nông nghiệp thời gian qua tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch cây trồng vụ đông xuân và xuống giống vụ lúa hè thu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển ổn định với nhiều mô hình chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng an toàn sinh học. Khai thác gỗ được đẩy mạnh, công tác phòng, chống cháy rừng và bảo vệ rừng được quan tâm, triển khai đồng bộ. Nuôi trồng thủy sản tăng khá nhờ thời tiết thuận lợi. Khai thác biển tăng nhẹ do đây là thời điểm bắt đầu vụ cá Nam và giá dầu giảm mạnh so với tháng trước nên ngư dân tiếp tục ra khơi đánh bắt hải sản.
Trong nông nghiệp, tính đến ngày 20/4/2026, cả nước gieo cấy được 2.932,9 nghìn ha lúa đông xuân, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, trong đó miền Bắc gieo cấy 1.037,5 nghìn ha, giảm 12,9 nghìn ha; miền Nam gieo cấy 1.895,4 nghìn ha, giảm 23,9 nghìn ha. Tại miền Nam, các địa phương đã thu hoạch được 1.486,0 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 78,4% diện tích xuống giống và bằng 92,2% cùng kỳ năm trước; riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1.119,9 nghìn ha, chiếm 90,3% và bằng 90,7%.
Tính đến ngày 20/4/2026, miền Nam gieo sạ được 355,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 50,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 272,3 nghìn ha, bằng 44,2%.
Cây hàng năm: Diện tích một số cây như ngô, lạc, khoai lang tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.
Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chu kỳ nuôi kéo dài, không kích thích người chăn nuôi tái đàn. Chăn nuôi gia cầm duy trì đà tăng trưởng ổn định; chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi.
Trong lâm nghiệp, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới cả nước ước đạt 78,5 nghìn ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 27,6 triệu cây, tăng 0,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 6.021,9 nghìn m3, tăng 2,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 142,0 ha, giảm 70,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 13,7 ha, giảm 83,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 128,3 ha, giảm 67,4%.
Về thủy sản, sản lượng thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 831,7 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 471,6 nghìn tấn, tăng 4,8%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 360,1 nghìn tấn, tăng 0,2%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 3.041,9 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.780,3 nghìn tấn, tăng 5,2%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.261,6 nghìn tấn, tăng 0,1%.
Tập trung giải ngân vốn đầu tư ngân sách, tạo động lực cho nền kinh tế
Trong tháng 4/2026, cả nước có gần 20,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 7,1% so với tháng trước và tăng 33,9% so với cùng kỳ năm trước; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% và tăng 5,1%; 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% và tăng 23,4%; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% và giảm 40,1%; 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9,0% và tăng 98,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 29,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 108,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 27,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước được các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt gần 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 16,7% và tăng 20,5%).
Trong đó, vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 25,4 nghìn tỷ đồng, bằng 12,5% kế hoạch năm và tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Bộ Xây dựng đạt gần 16 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đạt 1,3 nghìn tỷ đồng, giảm 61,8%; Bộ Y tế đạt 309,7 tỷ đồng, giảm 49,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 185,5 tỷ đồng, tăng 7,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 167,6 tỷ đồng, giảm 48,5%; Bộ Công Thương đạt 22,8 tỷ đồng, giảm 62,9%; Bộ Khoa học và Công nghệ đạt 12,1 tỷ đồng, giảm 82,7%.
Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 161,7 nghìn tỷ đồng, bằng 21,6% kế hoạch năm và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 125,3 nghìn tỷ đồng, bằng 21,3% và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2025; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 36,4 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% và tăng 23,5%.
Vốn FDI thực hiện cao nhất của cùng kỳ 5 năm qua
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 27/4/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32,0% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,40 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,12 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 540,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 270,6 triệu USD, chiếm 3,7%.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 4 tháng đầu năm 2026 có 74 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 691,1 triệu USD, gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước; có 4 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 22,8 triệu USD, giảm 43,2%. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 713,9 triệu USD, gấp 2,3 lần cùng kỳ năm trước.
Thu ngân sách bằng 44% dự toán năm
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 257,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.114,0 nghìn tỷ đồng, bằng 44,0% dự toán năm và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cụ thể một số khoản thu chính:
Thu nội địa tháng 4/2026 ước đạt 224,0 nghìn tỷ đồng; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 991,0 nghìn tỷ đồng, bằng 45,0% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.
Thu từ dầu thô tháng 4/2026 ước đạt 5,5 nghìn tỷ đồng; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt gần 17,0 nghìn tỷ đồng, bằng 39,5% dự toán năm và giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 4/2026 ước đạt 27,6 nghìn tỷ đồng; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 105,4 nghìn tỷ đồng, bằng 37,9% dự toán năm và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 143,9 nghìn tỷ đồng; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 668,2 nghìn tỷ đồng, bằng 21,2% dự toán năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định. Trong đó, chi thường xuyên 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 471,0 nghìn tỷ đồng, bằng 26,0% dự toán năm và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 153,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% và tăng 16,4%; chi trả nợ lãi 43,0 nghìn tỷ đồng, bằng 35,5% và tăng 5,4%.
Về bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2026 ước đạt 646,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.546,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%.
Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.938,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 317,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,5% tổng mức và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước do lượng khách du lịch nội địa và khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao trong những dịp lễ, Tết.
Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 258,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất nhập khẩu hàng hóa tăng hơn 24% so cùng kỳ trước
Trong tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,7%; nhập khẩu tăng 28,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD.
Về xuất khẩu hàng hóa, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 45,52 tỷ USD, giảm 2% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 33,65 tỷ USD, tăng 0,4%, chiếm 20,0% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%, chiếm 80,0%.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9%.
Về nhập khẩu hàng hóa, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 48,8 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 32,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,37 tỷ USD, tăng 32,3%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu bốn tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 53,9 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 69,0 tỷ USD.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 4/2026 ước nhập siêu 3,28 tỷ USD. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa ước nhập siêu 7,11 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,3 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,61 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,5 tỷ USD.
Chỉ số giá tiêu dùng 4 tháng tăng 3,99% so với cùng kỳ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước; tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,89%.
Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 6,71% so với tháng trước; tăng 54,24% so với cùng kỳ năm trước; tăng 10,83% so với tháng 12/2025; bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 75,13% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,31% so với tháng 12/2025; bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động vận tải tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam, phục vụ sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa.
Vận tải hành khách tháng 4/2026 ước đạt 509,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 5,6% so với tháng trước và luân chuyển 28,4 tỷ lượt khách.km, tăng 4,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 2.102,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 113,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,7%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.095,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước và 91,0 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 14,4%; vận tải ngoài nước ước đạt 6,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 7,0% và 22,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 6,1%.
Vận tải hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 274,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng trước và luân chuyển 53,3 tỷ tấn.km, tăng 2,3%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.082,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 208,2 tỷ tấn.km, tăng 10,2%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.063,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,2% và 121,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 10,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 19,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,7% và 86,9 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 9,3%.
4 tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt người
Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn; chính sách thị thực ngày càng thông thoáng; hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
Trong tháng 4/2026, khách quốc tế đến nước ta đạt 2,03 triệu lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt người, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của 4 tháng đầu năm các năm từ trước đến nay.
Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 7,3 triệu lượt người, chiếm 82,5% lượng khách quốc tế đến và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,4 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 47,6%; bằng đường biển đạt 174,3 nghìn lượt người, chiếm 2,0% và tăng 10,1%.
