Từ những năm đầu thế kỷ XXI, khi cơ chế kinh tế thị trường bắt đầu sinh sôi nảy nở ở nước ta, nhiều mô hình kinh tế đồng loạt phát triển, giải phóng sức lao động từ nông thôn đến thành thị, sản phẩm từ các làng nghề truyền thống đến các khu, cụm công nghiệp chen nhau ra thị trường trong nước và thế giới. Bức tranh sản xuất công nghiệp (SXCN) cả nước nhộn nhịp với những gam màu sáng, tối đan xen. Trong đó, vấn đề phát triển tự phát không theo quy hoạch chung khiến cho hàng hóa trong lưu thông phân phối trên thị trường vừa thiếu lại vừa thừa, tạo ra sự bất cập lớn trong chỉ đạo chung.
Đó là tình trạng, địa phương nào cũng có nhà máy xi măng lò đứng, tỉnh nào cũng có nhà máy đường, nhà máy bia… Các tỉnh DHMT đua nhau xin hạn ngạch xuất khẩu titan. Cụm công nghiệp, KCN, khu kinh tế tỉnh nào cũng phải có, xây dựng ồ ạt, kêu gọi đầu tư, địa phương nào cũng thừa thảm đỏ, thiếu chất xám.
Đồng vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng là không nhỏ, nhưng đóng băng dài hạn, chưa phát huy được. Nhất là các công trình điện, cấp thoát nước, giao thông cho hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, hầu hết chưa thu hồi vốn lại phải trả lãi ngân hàng khiến cho nhà đầu tư lao đao trong “cơn bão tài chính” chung của thế giới và trong nước.
Vượt qua những thách thức đó, các khu, cụm công nghiệp DHMT tuy xa 2 đầu trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, nhưng đã có những bứt phá ngoạn mục, bằng sự nỗ lực của các địa phương với những tiềm năng về lao động kỹ thuật, đất đai và thế mạnh về tài nguyên địa hình.
Đến con số riêng của duyên hải miền Trung
Đến nay, vùng DHMT có 42 KCN được thành lập, tổng diện tích 17.800 ha. Trong đó, có 24 KCN với diện tích trên 5.430 ha đã đi vào hoạt động, thu hút 943 dự án đầu tư. Hiện tỉ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN đạt 67,57%, cao hơn tỉ lệ lấp đầy của các KCN trong cả nước 2,56%.
Năm 2011, giá trị SXCN của các KCN trong vùng đạt gần 36.000 tỉ đồng, tạo công ăn việc làm cho gần 150 ngàn lao động, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1.237 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước 2.557 tỉ đồng. Tỉ trọng giá trị SXCN trong các KCN so với tổng giá trị SXCN trên địa bàn đạt bình quân từ 30 - 40% và có xu hướng tăng dần.
Đầu tư công trình đưa điện về khu Kinh tế Nhơn Hội
Riêng Bình Định, là một trong những địa phương có nhiều KCN trong vùng, với 5 KCN, trong đó, KCN Phú Tài và Long Mỹ đã được lấp đầy; KCN Nhơn Hòa đang tiếp tục triển khai xây dựng, cơ bản lấp đầy mặt bằng giai đoạn 1; KCN Cát Trinh đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư; KCN Hòa Hội đang xúc tiến mời gọi các nhà đầu tư có năng lực để tiếp tục xây dựng hạ tầng. Trong 5 năm qua, các dự án tại các KCN của Bình Định đã tạo ra khoảng 35% giá trị SXCN và 40% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, giải quyết việc làm cho 22.000 lao động.
Tuy nhiên, cũng chung tình trạng với các tỉnh DHMT, việc xây dựng các KCN trong vùng khá dàn trải, dẫn đến phân tán vốn đầu tư; thiếu đồng bộ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Do phát triển tự phát, không dựa vào quy hoạch vùng, thiếu “nhạc trưởng”, nên các KCN trong vùng có hàm lượng công nghệ thấp; môi trường ô nhiễm; cơ chế, chính sách chưa thông thoáng; lao động khan hiếm và nhất là quan hệ liên kết khá lỏng lẻo.
Phó Giáo sư - tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam, cho rằng: Mô thức phát triển KCN của vùng DHMT cũng giống như đa số các KCN trên cả nước là xây dựng các KCN theo kiểu “bách hóa tổng hợp”. Đó là KCN hội đủ tất cả các ngành nghề, từ chế biến nông - lâm - thủy sản đến sản xuất lương thực, thực phẩm… Tình trạng không kết nối, không liên kết và không thể lan tỏa phát triển cũng đã thể hiện rõ nét trong quan hệ hoạt động giữa các KCN trong vùng. Điều đó làm giảm sức cạnh tranh, không thể kêu gọi đầu tư hoặc kết nối hoạt động chuỗi với các DN lớn của thế giới…
Mở hướng đi lên
T
heo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc: Để các KCN trong vùng phát triển mạnh mẽ hơn nữa thì phải ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh thu hút đầu tư. Nhưng không phải thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà phải có cơ chế ràng buộc, tránh dự án treo, lãng phí đất, đồng bộ cơ chế, chính sách cho tất cả các tỉnh trong vùng. Hơn nữa, các địa phương phải có sự thống nhất về kêu gọi đầu tư, tránh để xảy ra cạnh tranh bất lợi.
Trong cương vị Trưởng ban Điều phối vùng các tỉnh DHMT, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh kết luận: Văn hóa hợp tác là cái mà khu vực DHMT đang thiếu. Căn bệnh nan y được chẩn đoán ra mấy năm nay, nhưng để trị cho dứt, không phải chuyện dễ dàng. Do vậy, cơ chế hợp tác toàn diện giữa các tỉnh trong vùng là một liệu pháp cần thiết. Bên cạnh đó, mỗi tỉnh cần chọn một số cán bộ trẻ, tài năng, tâm huyết gửi “học việc” tại các cơ quan lớn ở Hà Nội, nhằm tạo nguồn cán bộ cho khu vực; đặt hàng một số đề tài có ý nghĩa thúc đẩy phát triển các KCN cho nhóm tư vấn vừa mới được tăng cường; xác định một số dự án, công trình bức xúc để chuẩn bị cho cuộc làm việc tập thể giữa 9 tỉnh với các bộ, ngành Trung ương trong thời gian tới.
