Tóm tắt:
Bài viết nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến chuyển đổi số (CĐS) trong kế toán (KT) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) thuộc lĩnh vực thương mại (TM) tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh xu thế ứng dụng công nghệ mạnh mẽ trong mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội. Phương pháp định lượng được sử dụng qua dữ liệu thu thập từ 175 DNNVV thuộc lĩnh vực thương mại tại TP. Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện CĐS trong KT. Kết quả cho thấy có 7 nhân tố tác động đến CĐS trong KT tại các DN này, gồm: (i)  Hữu ích (β = 0.400); (ii) Văn hóa (β = 0.396); (iii) Chi phí (β = 0.258); (iv) Rào cản (β = -0.224); (v) Xu hướng (β = 0.208); (vi) Nhân lực (β = 0.194); (vii) Chính sách (β = 0.137). Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị.
Từ khóa: chuyển đổi số, doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề

Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin khiến CĐS không còn chỉ là xu hướng mà trở thành nhu cầu cấp thiết trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là KT. Tại Việt Nam, việc yêu cầu áp dụng hóa đơn điện tử, sử dụng chữ ký số và thực hiện khai thuế điện tử không chỉ tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc hiện đại hóa hệ thống KT mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ quy trình quản lý của DN.

Tuy nhiên, một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình CĐS trong KT tại các DN chính là cơ sở hạ tầng công nghệ. Dù TP. Hồ Chí Minh có nền tảng công nghệ thông tin phát triển, nhưng có sự phân hóa rõ rệt giữa các DN lớn và các DNNVV. Hơn nữa, nhận thức và năng lực lãnh đạo cũng giữ vai trò then chốt trong quá trình CĐS của các DN. Mặt khác, CĐS không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại của DN mà còn phụ thuộc vào môi trường chính sách và pháp lý. Dù Chính phủ và các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy CĐS, nhưng các chương trình hỗ trợ chưa đồng bộ trong các quy định pháp lý, cũng như những lo ngại về an ninh mạng và bảo mật dữ liệu, là các rào cản khiến nhiều DN còn do dự trong việc triển khai CĐS trong KT.

2. Cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ định nghĩa CĐS là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.

Ở góc độ DN, CĐS không đơn thuần là việc áp dụng các công cụ kỹ thuật nhỏ mà là cuộc cải tổ toàn diện về bản sắc và phương thức vận hành. Nói cách khác, CĐS liên quan mật thiết đến những thay đổi liên tục mang tính hệ thống mà công nghệ số mang lại cho mô hình kinh doanh, sản phẩm, quy trình và cả cấu trúc tổ chức của đơn vị. Theo đó, CĐS là quá trình liên tục đòi hỏi DN phải sẵn sàng điều chỉnh hoặc thay thế hoàn toàn các quy trình truyền thống để thích nghi với kỷ nguyên số.

2.2. Mô hình nghiên cứu

Qua lược khảo các công trình nghiên cứu, các nhân tố được xác định có thể ảnh hưởng đến CĐS trong KT tại các DNNVV thuộc lĩnh vực TM tại TP. Hồ Chí Minh, gồm:

  • Nhận thức tính hữu ích (HI):

Khi DN nhận thấy giá trị thực tiễn của công nghệ trong việc rút ngắn thời gian lập báo cáo, hỗ trợ ra quyết định kinh doanh nhanh chóng và tăng cường khả năng kiểm soát dòng tiền, ý định triển khai CĐS sẽ trở nên mạnh mẽ hơn (Nguyễn Phước Bảo Ấn và cộng sự, 2021; Nguyễn Thị Hồng Duyên và cộng sự, 2023; Nguyễn Thị Thúy & Nguyễn Thị Thái An, 2025).

  • Văn hóa doanh nghiệp (VH):

Văn hoá DN giúp định hình thái độ và mức độ sẵn sàng của tổ chức đối với CĐS trong KT. VH cởi mở, khuyến khích đổi mới và chấp nhận thay đổi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các công nghệ số trong quy trình KT. Bên cạnh đó, mức độ cam kết của lãnh đạo và việc đề cao giá trị học hỏi, chia sẻ tri thức cũng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thích ứng và duy trì KT số bền vững (Mustapha Ibouh và cộng sự, 2024).

  • Chi phí (CP):

Chi phí CĐS không chỉ gồm phí bản quyền phần mềm hay mua sắm thiết bị phần cứng ban đầu mà bao hàm các khoản phí ẩn: bảo trì hệ thống, đào tạo NL và tư vấn triển khai. Do đó, việc cân đối giữa lợi ích dài hạn và gánh nặng dòng tiền ngắn hạn là một bài toán khó, đặc biệt là với các DNNVV. Đồng nghĩa, CP hợp lý và khả năng thu hồi vốn nhanh là những tiêu chí hàng đầu chi phối quyết định lựa chọn giải pháp công nghệ của nhóm DN này (Nguyễn Phước Bảo Ấn và cộng sự, 2021; Lê Thị Hải Đường & Phan Lê Ngọc Châu, 2022).

  • Rào cản công nghệ (RC):

Bên cạnh những ưu điểm mang lại thì CĐS cũng đặt ra không ít khó khăn, cụ thể là các RC về công nghệ: tính phức tạp của hệ thống, khó khăn trong tích hợp và chuyển đổi dữ liệu, và các yêu cầu khắt khe về bảo mật thông tin (Al-Hussaini, 2019; Oluyemi và cộng sự, 2021).

  • Xu hướng (XH):

Tại một thị trường năng động như TP. Hồ Chí Minh, khi các chủ thể tham gia thị trường đồng loạt chuyển sang các hình thức giao dịch điện tử và yêu cầu mức độ minh bạch, kịp thời cao trong trao đổi dữ liệu tài chính, các DN buộc phải thích ứng và đẩy mạnh CĐS (Lê Thị Hải Đường & Phan Lê Ngọc Châu, 2022; Lê Ngọc Diệp & Trần Văn Hùng, 2024).

  • Nguồn nhân lực (NL):

Chất lượng nguồn NL (trình độ chuyên môn và kỹ năng công nghệ của đội ngũ KT) là nhân tố then chốt quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu CĐS của DN. Bởi, việc áp dụng các công nghệ mới (điện toán đám mây hay phân tích dữ liệu,…) đòi hỏi NL KT không chỉ vững nghiệp vụ mà còn phải có tư duy số, khả năng thao tác thành thạo trên các nền tảng kỹ thuật số (Nguyễn Phước Bảo Ấn và cộng sự, 2021; Nguyễn Thị Thúy & Nguyễn Thị Thái An, 2025).

  • Chính sách hỗ trợ (CS):

Khung pháp lý và các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ đóng vai trò quan trọng giúp tháo gỡ các khó khăn và khuyến khích các DN đẩy nhanh tiến trình CĐS (Nguyễn Phước Bảo Ấn và cộng sự, 2021; Lê Ngọc Diệp & Trần Văn Hùng, 2024). Đồng thời, sự rõ ràng và nhất quán trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật cũng giúp DN an tâm hơn về tính tuân thủ.

2.3.           Phương pháp nghiên cứu

Từ tháng 10 - 12/2025, 175 bảng hỏi được thu thập từ các DNNVV thuộc lĩnh vực TM tại TP. Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện trong CĐS trong KT và sau đó được xử lý bằng phần mềm SPSS.

Mô hình nghiên cứu đề xuất:

chuyen doi so

- Biến phụ thuộc: CĐS trong KT tại các DNNVV thuộc lĩnh vực thương mại tại TP. Hồ Chí Minh (CĐS)

- Biến độc lập: HI, VH, CP, RC, XH, NL, CS.

3. Kết quả nghiên cứu

Sau khi kiểm định độ tin cậy các thang đo của các biến độc lập và phụ thuộc, rút trích nhân tố theo phương pháp EFA, kiểm tra mối quan hệ tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập và phụ thuộc cũng như giữa các biến độc lập với nhau, tác giả thực hiện đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính. 

Bảng 1. Mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính

chuyen doi so

 

Nguồn: Kết quả từ SPSS

R² hiệu chỉnh = 0.721, nghĩa là 72,1% sự biến thiên của CĐS trong KT của các DNNVV thuộc lĩnh vực TM tại TP. Hồ Chí Minh được giải thích bởi 7 nhân tố đưa vào mô hình và 27,9% còn lại là do các nhân tố khác ngoài mô hình hoặc sai số ngẫu nhiên.

Bảng 2. Kết quả các trọng số hồi quy

Coefficientsa

Mô hình

Hệ số chưa chuẩn hóa

Hệ số chuẩn hóa

t

Sig.

Thống kê đa cộng tuyến

B

Sai số

Beta

Hệ số Tolerance

Hệ số VIF

1

(Constant)

-.400

.172

 

-2.323

.021

 

 

HI

.236

.024

.400

9.920

.000

.987

1.013

RC

-.123

.022

-.224

-5.544

.000

.981

1.020

NL

.136

.031

.194

4.355

.000

.812

1.232

CP

.151

.024

.258

6.368

.000

.975

1.025

XH

.121

.029

.208

4.252

.000

.671

1.491

CS

.074

.023

.137

3.222

.002

.889

1.125

VH

.240

.030

.396

8.135

.000

.678

1.474

a. Biến phụ thuộc: CĐS

Nguồn: Kết quả từ SPSS

Phương trình hồi quy tuyến tính các nhân tố ảnh hưởng đến CĐS trong KT của các DNNVV thuộc lĩnh vực thương mại tại TP. Hồ Chí Minh với các hệ số chuẩn hóa:

QD = 0.4*HI + 0.396*VH  + 0.258*CP - 0.224*RC + 0.208*XH + 0.194*NL + 0.137 CS

4. Hàm ý quản trị

Các hàm ý quản trị được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu và xếp theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần. Cụ thể:

Thứ nhất, HI. Nhận thức của ban lãnh đạo và đội ngũ NL KT về những giá trị chiến lược mà công nghệ mang lại đóng vai trò thúc đẩy quá trình đổi mới. Theo đó, DN cần: (i) Xác lập tầm nhìn chiến lược dựa trên thấu hiểu các giá trị thực tiễn, không chỉ dừng lại ở việc tiết kiệm thời gian hay giảm thiểu các sai sót nghiệp vụ thủ công, mà hướng đến khả năng cung cấp dữ liệu báo cáo tức thời để hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng và chính xác; (ii) Chủ động tổ chức các buổi truyền thông nội bộ nhằm làm rõ lợi ích của việc áp dụng phần mềm KT trực tuyến; (iii) Khuyến khích nhân sự cốt cán tham gia tích cực vào các hội thảo chuyên đề, diễn đàn công nghệ và tham quan các mô hình CĐS thành công.

Thứ hai, VH. Nhằm đảm bảo CĐS trong KT được duy trì và hiệu quả, DN cần đề cao tinh thần đổi mới sáng tạo. Cụ thể, cần tạo ra môi trường làm việc cởi mở, nơi mọi thành viên được khuyến khích chia sẻ ý tưởng và nhận thấy rõ lợi ích cá nhân trong bức tranh chung của DN. Sự thấu hiểu về giá trị thực tiễn này không chỉ giúp thu hút nhân tài mà còn giúp lãnh đạo có cái nhìn đa dạng về những khả năng mà CĐS có thể mang lại cho sự tăng trưởng dài hạn của tổ chức.

Thứ ba, CP. Giới hạn tài chính luôn là biến số trọng yếu buộc các DNNVV phải có bài toán cân đối nguồn lực thông minh và linh hoạt. Theo đó, cần: (i) Chuyển dịch từ tư duy đầu tư tài sản cố định công nghệ sang chiến lược tài chính dựa trên chi phí vận hành - ưu tiên các mô hình thuê bao dịch vụ hoặc trả phí theo mức độ sử dụng để giảm áp lực thanh khoản ngắn hạn và hạn chế rủi ro khi công nghệ thay đổi nhanh chóng; (ii) Chủ động đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho CĐS; (iii) Xây dựng ngân sách dài hạn, đảm bảo phân bổ vốn cho hạ tầng phần cứng, phần mềm và đào tạo NL luôn đạt được sự cân bằng và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng.

Thứ tư, RC. DN nên đánh giá hiện trạng hạ tầng công nghệ thông tin và tính tương thích của hệ thống hiện tại để nhận diện rõ các điểm nghẽn về an ninh mạng hay khó khăn trong tích hợp dữ liệu. DNNVV cũng nên ưu tiên lựa chọn các giải pháp phần mềm KT trên nền tảng điện toán đám mây bởi tính linh hoạt, chi phí đầu tư ban đầu thấp và khả năng mở rộng dễ dàng theo quy mô DN. Đồng thời, cần thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược với các nhà cung cấp giải pháp công nghệ uy tín nhằm thừa hưởng các tiêu chuẩn bảo mật quốc tế và nhận sự hỗ trợ kỹ thuật kịp thời.

Thứ năm, XH. Việc chủ động theo dõi xu hướng thị trường là cần thiết để DN không bị tụt hậu và đưa ra các phản ứng kịp thời nhằm bảo vệ thị phần. Đồng nghĩa, DN cần chuyển thế bị động sang chủ động bằng cách tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng số và kết nối dữ liệu với các đối tác lớn. Thay vì chỉ dừng lại việc đối phó pháp lý, DN nên tận dụng sức ép của xu hướng công nghệ để tái cấu trúc toàn bộ quy trình vận hành theo hướng chuyên nghiệp.

Thứ sáu, NL. Trong bối cảnh tồn tại một độ trễ đáng kể giữa tốc độ cập nhật công nghệ và khả năng thích ứng của đội ngũ NL, DN cần chuyển dịch mạnh mẽ sang chiến lược đào tạo chủ động và liên tục. Nội dung đào tạo không chỉ gói gọn trong các nghiệp vụ hạch toán truyền thống mà cần mở rộng sang các kỹ năng làm chủ dữ liệu lớn, tư duy phân tích quản trị và vận hành các phần mềm chuyên sâu trên nền tảng điện toán đám mây. DN cũng cần thiết lập một cơ chế đãi ngộ toàn diện với chính sách lương thưởng cạnh tranh dựa trên hiệu quả công việc và lộ trình thăng tiến minh bạch.

Thứ bảy, CS: Mối quan hệ giữa DN và cơ quan quản lý cần được nâng cấp thành cơ chế đối thoại 2 chiều qua các hiệp hội ngành nghề và diễn đàn kinh tế. Về phía mình, DN cần: (i) Tích cực phản hồi các vướng mắc thực tế trong quá trình triển khai CĐS trong KT để cơ quan chức năng có cơ sở điều chỉnh chính sách sát với thực tế. (ii) Tận dụng các chương trình tư vấn hỗ trợ CĐS và các ưu đãi kỹ thuật từ cơ quan Nhà nước.

5. Kết luận

CĐS trong lĩnh vực KT trở thành chìa khóa vàng giúp DN quản trị dòng tiền thông minh và đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác dựa trên dữ liệu thực. Những phát hiện từ nghiên cứu này đã phản ánh chân thực hiện trạng, đồng thời thiết lập một nền tảng khoa học vững chắc các DNNVV thuộc lĩnh vực TM tại TP. Hồ Chí Minh có thể vận dụng cho đơn vị mình trong thời gian tới.

 

Tài liệu tham khảo:

Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2022). Quyết định số 90/2022/QĐ-TTg ngày 13/02/2022 về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Lê Ngọc Diệp, Trần Văn Hùng (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số trong lĩnh vực kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạp chí Tài chính, số 9, 45-52.

Lê Thị Hải Đường, Phan Lê Ngọc Châu (2022). Rào cản trong quá trình chuyển đổi số kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 302, 63-71.

Nguyễn Phước Bảo Ấn, Trần Minh Đức, Lê Thị Ngọc Anh (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán doanh nghiệp. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 509, 55-64.

Nguyễn Thị Hồng Duyên, Trần Thị Minh Ngọc, Phạm Quốc Khánh (2023). Các nhân tố tác động đến chuyển đổi số kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, số 7, 28-36.

Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Thái An (2025). Nhận thức lợi ích và quyết định chuyển đổi số trong lĩnh vực kế toán tại doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Tài chính, số 2, 14-21.

Al-Hussaini A. (2019). Factors influencing digital accounting adoption in the Middle East. Journal of Accounting Technology, 11(1), 22-39.

Mustaph I., Laamraoui S. E. & Grine A. (2024). The effect of digital transformation of accounting on the organization of chartered accountancy firms, in Morocco: an exploratory qualitative study. Revue Francaise de Gestion Industrielle, 5(10), 113-130.

Oluyemi S. O., Adebayo O. P., & Adeyemi S. L. (2021). Impact of digital transformation on accounting practice in emerging markets. Journal of Accounting and Emerging Technologies, 4(2), 77-95.

 

Factors influencing digital transformation in accounting practices

at small and medium-sized enterprises in the commercial sector of Ho Chi Minh City

Le Thi Kim Ngan

Master’s student, University of Economics and Finance

Abstract:

In the context of the pervasive integration of digital technologies across socio-economic activities, this study investigates the determinants and magnitude of their influence on accounting digital transformation among small and medium-sized enterprises (SMEs) in the commercial sector of Ho Chi Minh City. Employing a quantitative research design, the study analyzes survey data collected from 175 commercial SMEs that have implemented or are in the process of implementing digital transformation in their accounting systems. Regression results reveal seven statistically significant factors affecting accounting digital transformation: perceived utility (β = 0.400), organizational culture (β = 0.396), cost (β = 0.258), perceived barriers (β = −0.224), technological trends (β = 0.208), human resources (β = 0.194), and policy environment (β = 0.137). The findings contribute empirical evidence on the multifaceted drivers and constraints shaping accounting digitalization within the SME sector in an emerging urban economy.

Keywords: digital transformation, small and medium-sized enterprises (SMEs), accounting, Ho Chi Minh City.

 

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 3/2026]