1. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường

        Nhiều người cho rằng, ô nhiễm môi trường không phải là kết quả của việc tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận việc tăng trưởng kinh tế có thể gây ô nhiễm môi trường. Dù chúng ta thấy rất nhiều quốc gia phát triển kinh tế dẫn đến suy thoái môi trường và ô nhiễm, nhưng chúng ta cần khẳng định rằng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững không bao giờ là kết quả của tăng trưởng kinh tế mà là kết qủa của sự lựa chọn chính sách và thực hiện. Bài toán đặt ra cho những người có trọng trách là, chúng ta phải làm gì và làm như thế nào để có chính sách đặc biệt vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Công nghiệp hóa, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức về bảo vệ môi trường. Có số liệu đưa ra là Hà Nội mỗi năm tổn thất lên tới 23 triệu USD do ô nhiễm không khí (mỗi này thiệt hại hơn 1 tỷ đồng)...

       Để có thể đạt được tất cả các mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (đến năm 2010, 85% người dân nông thôn sử dụng nước sạch và thu gom 90% chất thải rắn từ dân sinh, công nghiệp và dịch vụ,...) Chính phủ cần tạo khung khổ chính sách, cơ chế đưa vào VBPLMT hợp lý và đủ mạnh.

       2 . Những bất hợp lý về VBPLMT

       Không thể nêu hết những bất cập về VBPLMT, xin chỉ đưa ra một vài “cái” nho nhỏ để mong mọi người suy ngẫm thêm.

       Những người am hiểu và có trách nhiệm đều có chung một nhận xét về VBPLMT như sau: VBPLMT khá nhiều, nhưng nêu chung chung, thiếu cụ thể, thiếu nhiều quy định quan trọng. Như: Điều 131, Luật Bảo vệ Môi trường 2005, nêu: “sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được phân làm 3 mức: mức 1 là có suy giảm, mức 2 là suy giảm nghiêm trọng và mức 3 là suy giảm đặc biệt nghiêm trọng”. Nhưng không đưa ra tiêu chí đánh giá cụ thể hoặc thiếu các thiết bị, phương tiện đánh giá, nên khó xử lý.

     Đây cũng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tiêu cực, tham nhũng vì cán bộ chuyên trách có thể dễ dàng đánh giá theo “chủ quan” để có thể xê dịch kết quả...theo ý muốn (điển hình là vụ Vedan).

      Ở nước ta, việc xây dựng luật có vấn đề về tính ổn định. Nhiều luật chưa đưa và cuộc sống đã phải “sửa đổi” và “bổ sung một số điều”…Và VBPLMT của chúng ta cũng không ngoại lệ : Nghị định 80/2006/NĐ-CP ban hành năm 2006, qua 1 năm áp dụng đã phải sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 21/2008/NĐ-CP.

       Nhiều người cho rằng, Luật Bảo vệ môi trường không có quy định về việc áp dụng hồi tố nên khó răn đe.

       Thêm vào nữa, chế tài xử phạt còn quá nhẹ, chỉ là giải pháp tạm thời có tính chất cảnh cáo. Mức phạt cao nhất là 70 triệu đồng trong khi phải đầu tư thiết bị xử lý môi trường hàng tỷ đồng, với mức phạt này các DN sẵn sàng chịu phạt. Như người ta tính, có doanh nghiệp “lãi” ròng từ việc cắt bỏ hạng mục đầu tư xử lý môi trường cỡ ít nhất là 10 tỷ đồng, nhưng, họ chỉ bị phạt 30 triệu đồng. Thật là muối bỏ bể, và đã kinh doanh thì ai cũng vì lợi nhuận.

Người nghèo dễ bị tổn thương nhất với các thảm họa môi trường.- ảnh: Báo KH&PT

       Nhiều văn bản luật ra đời, nhưng lại không có điều kiện để thi hành như, các điều kiện đảm bảo công tác bảo vệ môi trường, nguồn nhân lực và các trang thiết bị cần thiết, nhất là cho các tổ chức cấp cơ sở rất thiếu và yếu thậm chí không có trong quy định cụ thể.

      Việc rà soát VBPLMT theo hướng bổ sung chế tài, ngân sách nhà nước tăng cường hỗ trợ các dịch vụ môi trường như: tuyên truyền, đầu tư công nghệ, đấu thầu dịch vụ làm sạch ở các cụm dân cư, tuyến phố, nhà  máy, cụm điểm công nghiệp...theo hướng vừa chuyên nghiệp vừa xã hội hóa bảo vệ môi trường.

Xem:  10 nguyên nhân đứng đầu gây ô nhiễm Môi Trường