PV: Điện hạt nhân liên quan đến an toàn phóng xạ nên những người tham gia và trực tiếp quản lý, vận hành nhà máy điện hạt nhân phải được đào tạo kỹ lưỡng. Vậy theo ông, cần phải làm gì để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trên? 

PGS.TS. Đàm Xuân Hiệp: Để sự cố hạt nhân không xảy ra, bên cạnh việc sử dụng công nghệ nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) phải tiên tiến và an toàn, việc chuẩn bị nhân lực cho ĐHN là vô cùng quan trọng cho tất cả các quá trình: xây dựng, lắp ráp, khởi động, vận hành, bảo dưỡng và cả khi nhà máy phải ngừng hoạt động (decommission). Hơn nữa, theo Quyết định 906/TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030, Việt Nam sẽ có hơn 1500 MW từ nguồn ĐHN, trong đó hai nhà máy ĐHN đầu tiên ở Ninh Thuận với tổng công suất khoảng 4000 MW sẽ bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2020 và 2021. Do vậy, công tác đào tạo ĐHN phải được triển khai hết sức khẩn trương, nhưng cũng phải có đầy đủ kiến thức để đáp ứng nhu cầu nhân lực, trước hết cho hai nhà máy đầu tiên… 

Cần phải hiểu rằng đào tạo nhân lực ĐHN hiện nay chủ yếu cho vận hành và quản lý hoạt động an toàn của nhà máy, vì vậy, khâu trải nghiệm các công việc thực tế đối với nhà máy ĐHN hay lò phản ứng hạt nhân là rất cần thiết. Đối với nhà máy ĐHN, rất nhiều việc cần cả kiến thức khoa học công nghệ và trải nghiệm thực tế, ví dụ như: các công việc liên quan đến điều khiển công suất lò, phân tích diễn biến và xử lý các sự kiện liên quan đến hoạt động an toàn của nhà máy ĐHN... 

Tuy nhiên, hiện nay, nguồn nhân lực cho ĐHN của Việt Nam còn vô cùng hạn chế vì thực tế chúng ta chưa có nhà máy ĐHN nên chưa thu hút được người học và người dạy về ĐHN; mặc dù chuyên ngành kỹ thuật hạt nhân phi năng lượng của ta phát triển tương đối tốt từ khi đất nước thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm hoạt động an toàn của các nhà máy ĐHN, chiến lược đào tạo nhân lực cần phải tăng tốc, một mặt bằng chính nội lực trong nước, mặt khác bằng hợp tác liên kết đào tạo với các nước có khoa học công nghệ tiên tiến về cho ĐHN, trong một kế hoạch và chương trình đào tạo thích hợp, có chất lượng nhằm đáp ứng sự phát triển ĐHN của đất nước. 

PV: Là một trong những trường đại học được Thủ tướng Chính phủ giao đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho dự án ĐHN, theo ông, chúng ta cần tổ chức đào tạo như thế nào để đem lại hiệu quả? 

PGS.TS. Đàm Xuân Hiệp: Thứ nhất, về nội lực trong nước, cần có chính sách khuyến khích những cán bộ đã được đào tạo đúng chuyên ngành ở các nước KHCN tiên tiến về làm công tác giảng dạy và những sinh viên khá giỏi theo học ĐHN (chú ý đến con em địa phương nơi xây dựng nhà máy); sử dụng tối đa các thiết bị thí nghiệm hiện có trong nước thông qua các thỏa thuận hợp tác đào tạo giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu; đồng thời từng bước đầu tư thiết bị thí nghiệm chuyên dụng cho đào tạo ĐHN... 

Thứ hai, về hợp tác với nước ngoài, cần tăng cường hợp tác liên kết đào tạo với các nước có nền KHCN tiên tiến, đặc biệt là những nước sẽ trực tiếp xây dựng và chuyển giao công nghệ nhà máy ĐHN cho Việt Nam (Nga và Nhật Bản), dưới nhiều hình thức khác nhau (gửi sinh viên đi du học và cán bộ đi thực tập, hoặc mời giáo viên nước ngoài thỉnh giảng, định kỳ tổ chức các khóa học ngắn hạn và các buổi seminar hay hội thảo khoa học về ĐHN...). 

Thứ ba, về kế hoạch đào tạo nhân lực cho ĐHN của các cơ sở đào tạo phải hợp lý và phù hợp với kế hoạch phát triển ĐHN của Nhà nước, trước hết phải bảo đảm cho dự án ĐHN Ninh Thuận được triển khai đúng tiến độ và có chất lượng; chương trình đào tạo không chỉ cung cấp những kiến thức về khoa học và kỹ thuật ĐHN, mà phải giáo dục cho người học một tinh thần và ý thức trách nhiệm cao nhất trong từng công việc để bảo đảm sự hoạt động an toàn chung của nhà máy khi vận hành. 

Ngoài ra, để thực hiện tốt nhiệm vụ thực tập công việc theo chế độ nhà thầu (ở nước ngoài), ngoại ngữ cần thiết (tiếng Nga, tiếng Nhật) cũng là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo ĐHN. 

PV: Khi nhà máy ĐHN bắt đầu vận hành, chúng ta cần bao nhiêu nhân lực cho từng công đoạn của nhà máy hoạt động? 

PGS.TS. Đàm Xuân Hiệp: Theo kinh nghiệm quốc tế, để nhà máy ĐHN hoạt động với công suất 2000 MW thì cần khoảng 1200 cán bộ vận hành. Quyết định 1558/TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ ra rằng, từ nay đến năm 2020 nước ta cần đào tạo 2400 cán bộ vận hành hai nhà máy ĐHN Ninh Thuận với tổng công suất 4000 MW, bao gồm nhiều các chuyên ngành kỹ thuật khác nhau (ĐHN, cơ khí, điện, điện tử, tự động hóa, hóa nước, nhiệt thủy động, môi trường,...), trong đó cán bộ chuyên ngành ĐHN chiếm khoảng 10 – 15% (khoảng 300 - 350 người). 

350 người chuyên ngành ĐHN không thể đào tạo phân giải cho các khóa học từ nay đến năm 2020, mà phải tập trung tuyển sinh từ năm 2010 đến năm 2014 vì thời gian cần thiết cho sinh viên học trong trường là 4 – 5 năm. Ngoài ra, sau khi tốt nghiệp đại học, họ còn phải đi thực tập vận hành nhà máy theo chế độ nhà thầu 1 - 2 năm. Những năm sau 2014, việc tuyển sinh để đào tạo kỹ sư chuyên ngành ĐHN cần phải được tiếp tục thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho chương trình ĐHN của đất nước theo Quyết định 906/TTg của Thủ tướng. 

Giai đoạn xây dựng nhà máy (bắt đầu vào cuối năm 2014) cũng rất cần những người chuyên ngành ĐHN, tuy không nhiều (khoảng 30 - 40 người). Để có đủ số người như vậy tham gia vào giai đoạn xây dựng nhà máy, cần phải bổ túc kiến thức ĐHN cho các kỹ sư/cử nhân mới tốt nghiệp về vật lý hạt nhân hay nhiệt điện ngay từ bây giờ (2011). Thời gian bổ sung kiến thức ĐHN kéo dài từ 1 đến 2 năm tùy theo từng chuyên ngành mà họ đã theo học. 

Số kỹ sư chuyên ngành kỹ thuật khác (cơ khí, điện, điện tử, hóa nước,...) phục vụ vận hành hai nhà máy ĐHN Ninh Thuận cũng cần được bổ túc kiến thức chung về ĐHN để họ có thể tham gia vào các giai đoạn xây dựng, lắp ráp và thực tập theo chế độ nhà thầu trước khi tham gia vận hành nhà máy. Thời gian bổ túc kiến thức ĐHN cho các đối tượng này kéo dài từ 2 đến 6 tháng để họ thấy được vai trò nhiệm vụ và tầm quan trọng của mỗi vị trí công việc trong hoạt động an toàn chung của nhà máy. 

PV: Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ĐHN được triển khai như thế nào? Những trường và cơ sở nào sẽ được giao đào tạo nguồn nhân lực này, thưa ông? 

PGS.TS. Đàm Xuân Hiệp: Theo quyết đinh của Thủ tướng Chính phủ, 6 cơ sở tham gia vào chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ĐHN là các Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội; Đại học Khoa học tự nhiên Tp. Hồ Chí Minh; Đại học Đà Lạt; Đại học Điện lực và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. 

Đại học Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Bộ Công Thương là một trong những cơ sở đào tạo nhân lực cho ĐHN, trước hết là cho hai nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, từ đầu năm 2009, Đại học Điện lực đã thành lập Bộ môn ĐHN và Năng lượng tái tạo thuộc Khoa Công nghệ năng lượng. Đến nay, bộ môn ĐHN và năng lượng tái tạo đã có hai phó giáo sư, tiến sĩ, bốn tiến sĩ, một kỹ sư trưởng lò phản ứng và hai thạc sĩ có thể đảm đương được các môn học chính về ĐHN. Ngoài ra, Trường còn có một số giáo viên thỉnh giảng từ các viện nghiên cứu và các trường đại học trong và ngoài nước theo các thỏa thuận hợp tác liên kết đào tạo giữa Đại học Điện lực và các Trường CVUT (Công hòa Sec), MPEI (Liên bang Nga), Viện Công nghệ Tokyo và các công ty công nghệ hạt nhân Nhật Bản (Toshiba, Hitachi, Mitshumisi). Đại học Điện lực đã và đang tích cực xây dựng chương trình, giáo trình và các thiết bị thí nghiệm phục vụ cho đào tạo chuyên ngành ĐHN. 

Năm 2010, Nhà trường đã bắt đầu tuyển được 58 sinh viên cho khóa học đầu tiên về ĐHN. Kế hoạch đào tạo nhân lực ĐHN của Trường sẽ được triển khai hàng năm với số lượng trung bình 60 - 70 sinh viên mỗi khóa. Cũng từ năm 2010, các giảng viên và chuyên gia nước ngoài đã đến Trường theo thỏa thuận ký kết để tham gia công tác đào tạo ĐHN tại Đại học Điện lực, dưới nhiều hình thức khác nhau như: giảng dạy các môn học; mở các khóa đào tạo ngắn hạn; báo cáo các chuyên đề; hoặc trình bày semainar khoa học về ĐHN. 

PV: Ông có đề xuất, kiến nghị gì để dự án ĐHN sớm được triển khai? 

PGS. TS. Đàm Xuân Hiệp: Để tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo thành công cho đề án đào tạo nhân lực ĐHN (một trong các khâu quan trọng nằm trong dự án ĐHN Ninh Thuận), chúng tôi xin đề xuất kiến nghị như sau: 

Một là, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách khuyến khích người dạy và người học trong lĩnh vực ĐHN bằng cách sớm triển khai Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 07/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 về các chế độ ưu đãi đối với người dạy và người học chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (các chế độ lương cho cán bộ, miễn học phí và cấp học bổng cho sinh viên chuyên ngành ĐHN, đồng thời, tạo điều kiện về kinh phí cho các giáo viên chuyên ngành ĐHN đi dự các hội nghị và hội thảo quốc tế hay đi bồi dưỡng nâng cao kiến thức ở nước ngoài). 

Hai là, cấp đầy đủ ngân sách đầu tư về cơ sở vật chất như: kinh phí xây dựng trường và đặc biệt là kinh phí mua sắm trang thiết bị cho phòng thí nghiệm và tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập về ĐHN... 

PV
: Xin cám ơn ông!