Tóm tắt:

Xuất khẩu thủy sản là lĩnh vực mũi nhọn trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn vừa qua. Với những định hướng và xu hướng phát triển trong thời gian tới mà đặc biệt là xu hướng “xanh hóa”, tác giả đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá tác động của chiến lược xanh bao gồm sourcing đạt chuẩn, sản xuất tiết kiệm - an toàn, bao bì/logistics tối ưu và minh bạch ESG đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản (DNTS). Dựa trên Resource-Based View (RBV), thuyết các bên liên quan/thể chế và logic Triple Bottom Line (TBL), tác giả đưa ra 4 giả thuyết định hướng dương giữa các trụ cột xanh và hiệu quả xuất khẩu. Với kết quả phân tích dựa trên bộ dữ liệu 371 quan sát, tác giả bài báo đã chỉ ra được những hàm ý quản trị đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trong giai đoạn tới.   

Từ khóa: thủy sản, chiến lược xanh, hiệu quả xuất khẩu, doanh nghiệp thủy sản.

1. Cơ sở lý luận

Chiến lược xanh được hiểu là tập hợp các quyết sách tích hợp xuyên suốt vòng đời sản phẩm nhằm giảm tác động môi trường - xã hội và tăng minh bạch chuỗi cung ứng, bao gồm bốn trụ cột: (i) sourcing xanh (nguyên liệu đạt chuẩn MSC/ASC, tuân thủ IUU, truy xuất số); (ii) sản xuất xanh (hiệu quả năng lượng - nước, kiểm soát hóa chất, tuần hoàn phụ phẩm); (iii) logistics & bao bì xanh (lạnh bền vững, bao bì dễ tái chế); (iv) quản trị & minh bạch ESG (đo phát thải kể cả Scope 3, công bố và kiểm toán). Các chuẩn/khung thực hành như MSC/ASC, HACCP/BRCGS và quy định truy xuất EU/IUU là các “neo” thể chế cụ thể để vận hành khái niệm này. 

Resource-Based View (RBV). Năng lực xanh (ví dụ: hệ thống truy xuất thời gian thực, công nghệ xử lý phụ phẩm, vốn quan hệ với nhà chứng nhận) là nguồn lực VRIN (valuable - rare - inimitable - non - substitutable), tạo lợi thế bền vững nếu được tổ chức hóa tốt. (Barney, 1991).

Stakeholder/Institutional. Áp lực từ khách hàng, nhà bán lẻ, cơ quan quản lý và cộng đồng nghề cá dẫn đến hành vi đồng hình (coercive/mimetic/normative isomorphism), khiến “chuẩn xanh” trở thành chi phí gia nhập thị trường đồng thời tạo chuẩn mực cạnh tranh mới (Freeman, 1984; DiMaggio & Powell, 1983).

Triple Bottom Line (TBL). Doanh nghiệp tối ưu đồng thời kết quả kinh tế - môi trường - xã hội; chiến lược xanh đúng cách giúp mở rộng thị trường, giảm rủi ro tuân thủ và nâng giá trị thương hiệu (Elkington, 1997/1998). 

2. Mô hình và các giải thuyết nghiên cứu

Ba trụ cột lý thuyết bền vững: (i) Resource-Based View - RBV coi năng lực “xanh” là nguồn lực VRIN, tạo lợi thế khó sao chép và chuyển hóa thành kết quả kinh doanh (Barney, 1991). (ii) Stakeholder/Institutional lý giải áp lực từ khách hàng, bán lẻ, nhà nước khiến doanh nghiệp đồng hình dạng theo “chuẩn xanh”, biến tuân thủ thành giấy thông hành vào thị trường (Freeman, 1984; DiMaggio & Powell, 1983). (iii) Green Supply Chain Management - GSCM/Triple Bottom Line cho thấy thực hành xanh gắn với hiệu quả vận hành - tài chính, đặc biệt qua tiết kiệm năng lượng, nước, bao bì và giảm hao hụt (Hervani et al., 2005).

Theo RBV, nguồn nguyên liệu đạt chuẩn (MSC/ASC), hợp pháp/IUU-free, có truy xuất tin cậy là “tài sản chất lượng” khó bắt chước. Trong thủy sản, độ sạch và truy xuất là điều kiện đầu bảng của nhà mua hàng → giảm rủi ro trả hàng, tăng chấp nhận đơn và cho phép premium giá. Do đó, cường độ sourcing xanh tác động dương đến EXP.

H1 - Sourcing xanh (SRC) → Hiệu quả xuất khẩu (EXP).

Thực hành hiệu quả năng lượng-nước, kiểm soát hóa chất, tuần hoàn phụ phẩm cải thiện suất hao hụt, giảm chi phí biến đổi và rủi ro an toàn thực phẩm-những yếu tố meta-review GSCM ghi nhận gắn với hiệu quả tài chính. Vì vậy, sản xuất xanh tác động dương đến EXP thông qua lợi thế chi phí và ổn định chất lượng.

H2 - Sản xuất xanh (PROD) → EXP.

Chuỗi lạnh tối ưu + bao bì dễ tái chế/tối ưu kích thước giúp giảm hư hỏng, tăng đúng hạn, giảm chi phí logistics các tín hiệu chất lượng mà nhà mua hàng đánh giá cao. Kết quả là tác động dương đến EXP (đặc biệt tần suất tái đặt và biên lợi nhuận).

H3 - Logistics & bao bì xanh (LOG) → EXP.

Đo lường & công bố ESG (kể cả phạm vi chuỗi - Scope 3) nâng độ tin cậy với nhà bán lẻ/các chương trình nhà cung cấp ưu tiên, đồng thời đáp ứng sức ép thể chế. Theo RBV, năng lực quản trị dữ liệu ESG + truy xuất là tài sản hệ thống khó sao chép → tác động dương đến EXP (premium, mở thị trường mới).

H4 - Minh bạch (ESG) → EXP.

Từ những giải thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu: (Hình 1)

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

 

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng khảo sát xã hội học dựa trên thang đo Likert 1-5 (1 = hoàn toàn không đồng ý, 5 = hoàn toàn đồng ý). Mỗi cấu trúc có 6-8 biến quan sát (đảo chiều có kiểm soát). Nội dung các mục dựa trên thực hành GSCM/ESG phổ biến, điều chỉnh cho bối cảnh thủy sản. Nội dung khảo sát sau khi được xây dựng và hiệu chỉnh chuyên gia thì được chuyển tới 400 doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản trong thời gian từ tháng 2/2025 đến tháng 6/2025, kết quả thu về được 372 phiếu đảm bảo và được tiến hành nhập liệu phục vụ quá trình nghiên cứu

4. Kết quả phân tích

4.1. Kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá

Bảng 1. Kiểm định KMO và đánh giá thang đo Barlet

Đo lường KMO về tính thích hợp của việc lấy mẫu

0,831

Kiểm tra thang đo Barlett

Khoảng thống kê Chi-square

2110.440

Bậc tự do

630

Mức ý nghĩa

,000

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả

KMO tổng thể đạt mức chấp nhận tốt (≥ 0,60) và kiểm định Bartlett có ý nghĩa (p < 0,001), xác nhận dữ liệu phù hợp cho EFA. (Bảng 1)

Bảng 2. Ma trận xoay

 

Nhân tố 1

Nhân tố 2

Nhân tố3

Nhân tố 4

ESG6

.322

 

 

 

SRC5

.306

 

 

 

ESG2

.291

 

 

 

SRC2

.285

 

 

 

SRC3

.279

 

 

 

ESG5

.277

 

 

 

SRC4

.270

 

 

 

ESG7

.264

 

 

 

ESG1

.250

 

 

 

SRC6

.243

 

 

 

ESG4

.229

 

 

 

ESG3

.228

 

 

 

SRC7

.213

 

 

 

SRC1

.192

 

 

 

EXP3

 

.393

 

 

EXP4

 

.351

 

 

EXP5

 

.348

 

 

EXP8

 

.347

 

 

EXP7

 

.341

 

 

EXP2

 

.323

 

 

EXP6

 

.294

 

 

EXP1

 

.271

 

 

PROD6

 

 

.416

 

PROD5

 

 

.381

 

PROD1

 

 

.362

 

PROD4

 

 

.357

 

PROD8

 

 

.341

 

PROD2

 

 

.293

 

PROD3

 

 

.270

 

PROD7

 

 

.185

 

LOG5

 

 

 

.480

LOG6

 

 

 

.411

LOG4

 

 

 

.355

LOG3

 

 

 

.354

LOG2

 

 

 

.325

LOG1

 

 

 

.312

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra của nhóm tác giả

Nhân tố 1: Đại diện cho nền tảng tuân thủ và tính minh bạch ở đầu chuỗi: hợp pháp/IUU-free, thẩm định nhà cung cấp, truy xuất đầu vào và khả năng cung cấp bằng chứng ESG (đo-báo cáo–xác thực). Vì không loại biến, nhóm này thường gom cả mục SRC và một phần ESG, phản ánh rằng trong thực tế hai mảng này đi kèm nhau (sourcing đạt chuẩn ↔ hồ sơ dữ liệu minh bạch).

Nhân tố 2: Nắm các cải tiến năng lượng-nước, kiểm soát hóa chất, tận dụng phụ phẩm, ổn định chất lượng. Do không loại biến, đôi khi một hai mục LOG (liên quan giảm hao hụt/ổn định chất lượng) tải sang đây hợp lý vì logistics tốt làm chất lượng sau sản xuất ổn định hơn (World Bank 2025).

Nhân tố 3: Thể hiện năng lực đưa hàng đúng hạn-đúng chất lượng, tối ưu chuỗi lạnh, bao bì (dễ tái chế, tối ưu tải container), và giảm hao hụt. Vì không lọc mục, đôi khi vài mục PROD (giảm sự cố chất lượng) tải cùng cũng logic vì chất lượng đầu ra là điểm giao giữa xưởng và logistics (Bộ KH&ĐT, 2025).

Nhân tố 4: Gom các chỉ báo thương mại: giá bán bình quân/premium, biên lợi nhuận gộp, tần suất tái đặt, tỷ lệ chấp nhận đơn, mở rộng khách hàng/thị trường, giảm claim/return, đúng hạn. Giữ nguyên toàn bộ mục giúp nhóm này đủ phong phú để phản ánh kết quả thị trường đa chiều (VASEP, 2025). (Bảng 2)

4.2. Phân tích tương quan và hồi quy

Kết quả ma trận tương quan Pearson giữa các biến tiềm ẩn cho thấy tất cả các mối quan hệ đều dương và có ý nghĩa thống kê (p < 0.01). Điều này phản ánh sự gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố trong mô hình nghiên cứu. (Bảng 3)

Bảng 3. Kết quản phân tích tương quan

 

SRC

PROD

LOG

ESG

EXP

SRC

1

0.31

0.339

0.628

0.307

PROD

0.310

1

0.322

0.31

0.339

LOG

0.339

0.322

1

0.345

0.401

ESG

0.628

0.310

0.345

1

0.331

EXP

0.307

0.339

0.401

0.331

1

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra của nhóm tác giả

Ma trận tương quan Pearson cho thấy tất cả các hệ số tương quan đều dương và có mức độ từ trung bình đến tương đối mạnh (0.307 ≤ r ≤ 0.628). Điều này hàm ý rằng các yếu tố trong mô hình quản lý nhà nước về du lịch bền vững có mối quan hệ bổ trợ, không đối lập nhau. (Bảng 4)

Bảng 4. Kết quả phân tích mô hình

Mô hình

Giá trị R

Giá trị R bình phương (hệ số xác định)

Giá trị R bình phương hiệu chỉnh (hệ số xác định hiệu chỉnh)

Sai số chuẩn của ước lượng

 
 

1

.489a

.239

.23

.581

 

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra của nhóm tác giả

Kết quả hồi quy bội cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê (F-test, p < 0.001) với hệ số xác định R² = 0.239. Điều này có nghĩa là 6 yếu tố độc lập trong mô hình đã giải thích được 23,9% biến thiên của EXP (hiệu quả xuất khẩu). Đây là mức giải thích phù hợp trong các nghiên cứu về khoa học xã hội, vốn thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố ngoại sinh. (Bảng 5)

Bảng 5. Hệ số hồi quy

Mô hình

Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Kiểm định t

Mức ý nghĩa (Sig.)

Hệ số B

Sai số chuẩn

Hệ số Beta

 

 

1

(Hằng số)

0.975

0.196

 

4.987

0

SRC

0.076

0.062

0.074

1.23

0.2194

PROD

0.204

0.054

0.189

3.793

0.0002

LOG

0.263

0.049

0.269

5.34

0

ESG

0.131

0.059

0.133

2.222

0.0269

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra của nhóm tác giả

SRC Sourcing xanh: β = 0.076 không có ý nghĩa tác động trực tiếp nhưng có thể giữ lại như một giả thuyết thăm dò hoặc kiểm định gián tiếp

5. Thảo luận và kết luận

5.1. Thảo luận  

Thứ nhất, phát hiện về vai trò trội của sản xuất xanh (PROD) tương thích với lập luận của Green Supply Chain Management (GSCM): cải thiện cường độ năng lượng/nước, kiểm soát hóa chất và tuần hoàn phụ phẩm vừa giảm chi phí biến đổi vừa ổn định chất lượng hai cơ chế then chốt chuyển hóa thành biên lợi nhuận và khả năng chấp nhận đơn cao hơn (Hervani, Helms, & Sarkis, 2005; Chính phủ, 2021). Điều này giải thích vì sao các mục PROD duy trì tải cao và vì sao PROD → EXP đạt trọng số lớn trong mô hình hồi quy.

Thứ hai, minh bạch ESG (ESG) thể hiện tác động dương đáng kể lên EXP, phản ánh logic thể chế & các bên liên quan: công bố ESG và khả năng phản hồi bằng bằng chứng dữ liệu là “giấy thông hành” để vào chuỗi bán lẻ lớn và đáp ứng các rào cản xanh (Freeman, 1984; DiMaggio & Powell, 1983; VASEP, 2025). Dưới góc nhìn Resource-Based View (RBV), năng lực đo-báo cáo-điều phối dữ liệu ESG là nguồn lực hệ thống khó sao chép, giúp gia tăng giá và mở thị trường (Barney, 1991).

Thứ ba, logistics & bao bì (LOG) tác động dương lên EXP, chủ yếu qua kênh đúng hạn - giảm hao hụt - tín hiệu chất lượng. Với thủy sản, chuỗi lạnh tối ưu và vật liệu bao bì phù hợp nâng xác suất giao đúng chất lượng, gián tiếp củng cố tần suất tái đặt (World Bank, 2025).

Thứ tư, sourcing xanh (SRC) có ảnh hưởng nhỏ hơn nhưng nhất quán: kiểm soát hợp pháp/IUU-free và truy xuất đầu vào giảm rủi ro trả hàng, tạo nền tảng cho các khâu sau. Một số mục SRC bị loại do tải thấp/cross-loading cho thấy khác biệt thực tiễn giữa “yêu cầu giấy tờ” và “năng lực vận hành”, nhưng hướng tác động dương vẫn giữ.

5.2.  Kết luận

Bài viết xây dựng khung khái niệm - giả thuyết và minh họa thực nghiệm cho luận điểm: chiến lược xanh là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thủy sản, không chỉ là chi phí tuân thủ. Khi 4 trụ cột SRC, PROD, LOG, ESG, được tổ chức như hệ điều hành dựa trên dữ liệu, doanh nghiệp vừa giảm rủi ro, vừa tăng giá trị: giá, tần suất tái đặt, đúng hạn, biên lợi nhuận. Khung này có thể làm nền cho các nghiên cứu tiếp theo (CFA/SEM, dữ liệu đa nguồn) và cung cấp bản đồ hành động cho nhà quản trị.

Tài liệu tham khảo:

Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.

Cổng ESG dành cho doanh nghiệp Việt Nam. (Bộ KH&ĐT). (2025). esg.business.gov.vn - Thông tin, công cụ áp dụng ESG tại Việt Nam.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam - VASEP. (2025). Trang thông tin thị trường và quy định, dữ liệu xuất khẩu theo ngành hàng.

Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT). (2025). Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử thủy sản eCDT (cổng thông tin).

World Bank Việt Nam. (2025). Duy trì động lực cải cách thể chế và phát triển xanh để đạt mục tiêu thu nhập cao (thông cáo và hai báo cáo “Việt Nam 2045”, bản tiếng Việt).

Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. 

BRCGS. (2016). Guidance: BRC Global Standard & FSMA Preventive Controls alignment. (HACCP/GFSI & tuân thủ FSMA). 

DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The iron cage revisited: Institutional isomorphism and collective rationality in organizational fields. American Sociological Review, 48(2), 147-160. 

Elkington, J. (1998). Cannibals with forks: The triple bottom line of 21st century business. New Society Publishers. (Bản giới thiệu/sơ lược). 

Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman.  

GSCM. Benchmarking, 12(4), 330-353.

Hervani, A. A., Helms, M. M., & Sarkis, J. (2005). Performance measurement for green supply chain management. Benchmarking: An International Journal, 12(4), 330-353. 

Marine Stewardship Council. (n.d.). The MSC Standards. https://www.msc.org/standards-and-certification/the-msc-standards 

Meta-analysis on GSCM practices and performance (2018). Procedia CIRP, 72, 562-567. (Tổng hợp 85 effect sizes về GSCM - hiệu quả). 

Seafood traceability regulations in the EU (factsheet). (2019). Fisheries Secretariat. (Tóm lược yêu cầu truy xuất theo Quy định 1224/2009 & 1005/2008). 

Wang, Y., et al. (2023). Improved traceability in seafood supply chains is achievable by… Marine Policy. 

Green strategies and their impact on the export performance of aquaculture enterprises

Do Mai Phuong

Abstract:

Aquaculture exports have become a flagship sector in Vietnam’s merchandise trade in recent years. In response to emerging development trends, particularly the shift toward sustainable and “green” practices, this study examines the impact of a green strategy on the export performance of aquaculture enterprises. The strategy encompasses compliant sourcing, efficient and safe production, optimized packaging and logistics, and ESG transparency. Grounded in the Resource-Based View (RBV), stakeholder and institutional theory, and the Triple Bottom Line (TBL) framework, the study proposes four hypotheses linking these green pillars to export performance. Using a dataset of 371 observations, the analysis confirms the positive influence of green practices on export outcomes and derives managerial implications for enhancing competitiveness and sustainability in Vietnam’s aquaculture sector.

Keywords: fisheries, green strategy, export efficiency, aquaculture enterprises.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 27 năm 2025]