Ông thích đọc sách, luyện thư pháp, kéo đàn nhị. Khi vui, ông còn cùng vợ là Lao An "vợ ca chồng xướng" vài đoạn kinh kịch.

 

Nguyên tắc lớn nhất: Không bàn chuyện công tác

Sau khi về hưu, nguyên tắc lớn nhất của ông Chu Dung Cơ là không bàn chuyện công tác. Ông nói rõ ràng: “Tôi đã nghỉ hưu, yêu cầu mọi người không đến bàn công tác với tôi nữa”.

 

Chu Dung Cơ cũng không ở cố định tại Bắc Kinh. Ông đi Thượng Hải, đi Hồ Nam và Quảng Đông. Bất kể ở Bắc Kinh hay đến nơi nào, ông thường tránh tiếp xúc bàn công tác với quan chức địa phương.

 

Theo thông lệ của Trung Quốc, vị lãnh đạo nào của Nhà nước đã về hưu mà về địa phương thì những người đứng đầu địa phương phải tổ chức đến thăm hỏi. Hễ có vị nào còn đang công tác đến thăm, Chu Dung Cơ nói thẳng: không bàn chuyện công tác.

 

Khi còn công tác, Chu Dung Cơ nổi tiếng là người say mê công việc. Từ năm 1951, sau khi Chu Dung Cơ rời Đại học Thanh Hoa, đi nhận công tác khác, kể cả thời gian bị quy là “phái hữu” phải cải tạo, tổng cộng ông đã làm việc suốt nửa thế kỷ có lẻ. Thói quen làm việc đã trở thành máu thịt trong ông. Thế mà giờ đây ông không một chút luyến tiếc, đủ thấy cá tính cương quyết của ông thế nào.

 

Sở dĩ Chu Dung Cơ nêu ra phương châm “không bàn công tác” là có sự suy nghĩ sâu sắc. Là người tiền nhiệm, ông đã bàn giao tất cả công việc cho Thủ tướng Ôn Gia Bảo rồi, nếu bây giờ ông còn lưu luyến cao đàm, khoát luận, không những bất lợi cho êkíp lãnh đạo mới mà cũng không phù hợp với phong cách làm người của ông.

 

Do vậy, một người thông minh như Chu Dung Cơ thường né tránh gặp gỡ bàn bạc công tác với bất cứ ai, không muốn làm ảnh hưởng đến những người lãnh đạo đương chức.

 

Để đảm bảo chắc chắn, ông còn yêu cầu những trợ lý của ông giúp ông “canh cửa”, khéo léo từ chối những cuộc thăm viếng của những người không phải là bạn thân của ông.

 

Tiếc cho người có văn tài nhưng không chịu viết

Khi còn đương chức, dù bận mấy, Chu Dung Cơ mỗi ngày đều dành thời gian đọc sách. Ngoài văn kiện, báo cáo, ông kiên trì đọc các báo trong nước, Hồng Công và nước ngoài, đặc biệt là một số báo viết bằng tiếng Anh. Thời ấy, các phóng viên và chính khách nước ngoài đến thăm và chuyện trò với ông, họ đều khâm phục tầm hiểu biết và trí nhớ của ông.

 

Giờ đây, khi đã rời bỏ chính trường, nhưng thói quen đọc sách có từ thuở trẻ vẫn không hề thay đổi. Có điều, ông không còn phải đọc văn kiện, báo cáo nữa, ông dành thời gian cho những cái gì mà ông thích đọc như thư tịch cổ, văn sử triết, khoa học, nhân vật...

 

Trước đây, người ta biết nhiều về tài ăn nói và trí nhớ của ông, nhưng lại biết rất ít về văn tài của ông. Thực ra thời trẻ ông cũng rất giỏi văn. Theo những người cùng học với ông thì hồi ở trung học, Chu Dung Cơ có năng khiếu về văn và ngoại ngữ. Những bài tập làm văn tiếng Trung Quốc và tiếng Anh của ông thường được coi là bài văn mẫu và được đưa vào khung  kính của nhà trường cho học sinh đọc.

 

Khi lên đại học, Chu Dung Cơ tuy học công nghiệp nhưng vẫn thích hoạt động báo chí. Tờ nội san “Hiểu Lộ” của Đại học Thanh Hoa do ông phụ trách. Ông vừa là tổng biên tập, là phóng viên, là người chế bản, vừa là người trả lời độc giả, công việc rất bận nhưng ông rất vui, không biết mệt.

 

Cho đến bây giờ, Chu Dung Cơ vẫn chưa thể hiện văn tài của mình, thật là đáng tiếc! Mọi người đang trông chờ một cuốn hồi ký của ông.

 

Những người đứng đầu quốc gia ở nước ngoài, sau khi về hưu thường viết hồi ký kể lại một giai đoạn lịch sử cầm quyền và kinh nghiệm làm việc của mình, điều đó là rất tốt, giúp ích những người đi sau. Nhưng theo giới truyền thông cho biết, Chu Dung Cơ quyết không viết hồi ký.

 

Cựu Thủ tướng Lý Bằng, tháng 6/2003 cho ra đời cuốn "Nhật ký Tam Hiệp Lý Bằng"; Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kỳ Tham, tháng 11/2003 cũng xuất bản cuốn "Mười mẩu chuyện ngoại giao".

 

Là một người thông minh và có văn tài như Chu Dung Cơ, tại sao lại tránh né  không viết hồi ký? Người dân Trung Quốc đang mong Chu Dung Cơ nghĩ lại, bắt tay viết hồi ký để giúp hậu thế biết thêm về một giai đoạn lịch sử.

 

Thích hát kinh kịch và kéo nhị

Chu Dung Cơ sinh ngày 1/10/1928, thân phụ ông ốm chết khi ông còn nằm trong bụng mẹ. Mười tuổi, mẹ đi bước nữa, ông được người bác nuôi nấng cho ăn học.

 

Theo cuốn "Truyện Chu Dung Cơ" do NXB Minh Báo ấn hành năm 1998, thì người bác của Chu Dung Cơ rất thích kinh kịch, biết kéo nhị, nên ông cũng thích đàn hát từ hồi nhỏ.

 

Sau này, lên trung học gặp thầy giáo cũng mê kinh kịch nên Chu Dung Cơ càng có điều kiện thể hiện mình. Được thầy giáo dạy dỗ, Chu Dung Cơ không những biết hát kinh kịch mà còn biết kéo nhị thành thạo.

 

Ông thường biểu diễn ở những cuộc liên hoan văn nghệ nhà trường và thường vui hát cùng các bạn học. Vào ngày lễ, ngày nghỉ hễ Chu Dung Cơ có mặt là trong phòng vang lên tiếng đàn, tiếng nhị.

 

Những thú vui thời trẻ, bây giờ trở thành thú vui của tuổi già. Khi Chu Dung Cơ còn làm Phó thủ tướng và Thủ tướng, ông ít có dịp đàn hát, nên mọi người không biết tài nghệ của ông. Về hưu có điều kiện luyện tập, ông trở thành cao thủ trong việc kéo nhị và hát kinh kịch. Bà Lao An, phu nhân của ông cũng là người mê kinh kịch.

 

Hai vợ chồng Chu Dung Cơ khi còn ở Đại học Thanh Hoa đều đã từng tham gia đội kinh kịch của trường. Bây giờ, khi nào vui vẻ, hai ông bà thường biểu diễn kinh kịch. Bà cất cao giọng hát, ông ngồi bên kéo nhị. Nhìn cảnh “chồng đàn vợ hát” thật là hạnh phúc!

 

Thích chuyện trò vui vẻ

Những người quen biết gia đình cựu Thủ tướng Chu Dung Cơ đều nói, vợ chồng họ rất đẹp đôi. Lao An là em gái một người bạn học của ông. Tính tình Lao An dịu dàng và tháo vát. Khi Chu Dung Cơ gặp sóng gió về chính trị, bà không xa rời ông mà cùng ông chia sẻ hoạn nạn.

 

Những năm Chu Dung Cơ còn đương chức, lúc cần xuất hiện với thân phận là phu nhân thủ tướng, bà thường mỉm cười đi cùng chồng. Chu Dung Cơ rất hãnh diện về vợ mình. Ông từng công khai nói: “Cô ấy rất đáng yêu!”.

 

Trong cuộc sống, bà Lao An chăm sóc chồng rất chu đáo, từ nơi ở đến ăn mặc. Khi còn làm việc, lúc không cần thiết, ông thường về nhà ăn cơm. Bà lo cho ông món rau cải và món măng là hai món ông thích nhất. Chu Dung Cơ không hút thuốc, không uống rượu, rèn luyện thân thể chủ yếu là đi bộ.

 

Năm nay đã 79 tuổi, Chu Dung Cơ không tránh khỏi một số bệnh tật. Sau khi về hưu, ông đã trải qua một lần tiểu phẫu thuật, cắt bỏ một cái u lành.

 

Trước kia, Chu Dung Cơ rất nghiêm nghị, thế mà giờ đây đi khám bệnh, đến khoa mắt, khoa răng... nơi nào cũng nghe thấy tiếng cười của ông, khiến các y bác sĩ cũng vui lây. Nhân viên bệnh viện phản ánh rằng, cựu Thủ tướng rất thích chuyện gẫu như một người dân bình thường vậy.

 

Một số cán bộ Trung ương Đảng đến dự lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Đại học Thanh Hoa, mọi người vỗ tay đón chào đoàn, khi phát hiện ra Chu Dung Cơ, tiếng vỗ tay vang lên như sấm. Ông cúi đầu, không nhìn mọi người, nhưng tiếng vỗ tay vẫn không ngớt. Tim đập rộn ràng, ông khôi hài nói: “Đó chẳng phải là hại tôi ư?”.

 

Một khi Chu Dung Cơ đã chuyện trò thì không sao mà dứt được. Có khi ông tự trào nói: "Bây giờ không phải sợ tôi không có thời gian chuyện trò, mà là sợ bà con không có thời gian...".

 

Thư pháp viết rất đẹp, nhưng ít khi cho chữ

Chu Dung Cơ từng là giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ của Đại học Thanh Hoa, và còn là Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế. Năm 1987, được nhà nước cử làm Phó chủ nhiệm UB kinh tế quốc gia, sau đó được điều đến Thượng Hải làm Thị trưởng, rồi làm Phó thủ tướng Quốc vụ viện, tuy bận thế, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉ đạo các nghiên cứu sinh ông đã hướng dẫn hoàn thành luận án.

 

Nét chữ ông viết rất phóng khoáng. Mọi người hết sức tán thưởng 4 chữ “Thanh Chính Liêm Minh” do chính ông viết khi ông tròn 60 tuổi. Bốn chữ này là mục tiêu phấn đấu của đời ông. Thư pháp của ông khá điêu luyện, nhưng khi còn tại chức ông chưa tặng cơ quan nào cả. Sau khi về hưu, do có nhiều thời gian luyện, nên chữ ông viết càng ngày càng đẹp.

 

Nhiều người muốn xin ông chữ, nhưng ông đều khéo léo từ chối. Chu Kinh Dã - anh họ Chu Dung Cơ ở Thượng Hải, nhiều lần xin ông viết cho một câu đối, nhưng suốt 10 năm ông không viết, mãi đến khi ông Dã 90 tuổi, ốm nằm bệnh viện, ông mới viết tặng.

 

Chu Dung Cơ không thích xem những bài và truyện viết về mình. Thậm chí, có người đưa cả tác phẩm của họ đến cho ông duyệt, ông cũng nói: “Không xem”. Nhưng ông lại rất quan tâm đến một cuốn truyện viết bằng tiếng Anh của người nước ngoài viết về ông.

 

Thanh quan lưu danh

Quê gốc Chu Dung Cơ ở nông thôn tỉnh Hồ Nam, sau khi gia đình làm ăn lụn bại, bố ông là Chu Hy Thánh rời lên thành phố Trường Sa, nên từ nhỏ, ông lớn lên ở Trường Sa. Cho đến khi tốt nghiệp đại học, Chu Dung Cơ chưa về lại quê hương lần nào.

 

Từ 18 tuổi trở đi, Chu Dung Cơ làm việc gì cũng nhiệt tình hăng say: Khi giải phóng Bắc Kinh, là lớp trưởng thuộc Khoa Điện cơ Đại học Thanh Hoa, ông đi đầu vào tiếp quản thủ đô. Sau khi thành lập nước, ông xin gia nhập Đảng Cộng sản; thời kháng Mỹ viện Triều, ông là sinh viên đầu tiên nộp đơn xin ra mặt trận, nhưng không được chấp thuận; khi bầu chủ tịch Hội sinh viên trường, ông được cao phiếu nhất; hồi “đại nhảy vọt”, ông chính trực, chân thành góp ý kiến với Đảng, hậu quả bị quy là “phái hữu”; đầu thập niên 90 thế kỷ XX, kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, ông là Phó thủ tướng kiêm Thống đốc ngân hàng ra sức ngăn chặn lạm phát.

 

Khi ông còn làm Thủ tướng, bà con quê Hồ Nam rất mong ông về thăm quê một chuyến. Sau khi ông về hưu, cán bộ ở quê càng nhiệt tình mời ông về, nhưng ông vẫn chưa về.

 

Không phải ông không nhớ quê hương, nhưng trong lòng ông vẫn còn đắn đo do dự. Khi còn tại chức, ông sợ dân làng trống rong cờ mở đón tiếp linh đình, về hưu rồi, lại sợ dân làng bao mọi chi phí cho chuyến về quê của ông.

 

Trường hợp từ nhỏ xa quê hương nhưng chưa về thăm quê lần nào như Chu Dung Cơ không phải chỉ có mình ông, Đặng Tiểu Bình từ nhỏ cũng xa làng Quảng An, Tứ Xuyên vừa kiếm sống vừa học tập, cho đến lúc lìa trần vẫn chưa một lần về quê hương.

 

Chu Dung Cơ hay nhắc lại một câu châm ngôn khắc trên bia ở Tây An từ thời nhà Thanh cho cán bộ dưới quyền mình nghe. Câu đó là: “Lại bất úy ngô nghiêm, nhi úy ngô liêm; dân bất phục ngô năng, nhi phục ngô công; công bất tắc bất cảm mạn, liêm tắc lại bất cảm khi. Công sinh minh, liêm sinh uy” (Quan lại không sợ ta nghiêm mà sợ ta liêm khiết; dân không phục năng lực của ta mà phục ta công tâm; công tâm dân sẽ không dám chậm chạp lười nhác, liêm khiết thì quan lại không dám ức hiếp dân. Công tâm sẽ sinh ra sáng suốt, liêm chính sẽ sinh ra uy nghiêm).

 

Chu Dung Cơ nói hồi trẻ ông đã thuộc lòng câu châm ngôn đó, ông mong mỗi một viên chức hãy hiểu rõ và thực hiện đạo lý ấy. Ông từng nói với các phóng viên nước ngoài rằng, sau khi về hưu, nhân dân ban tặng cho tôi hai chữ “thanh quan” là tôi mãn nguyện rồi.

 

Trong buổi nhậm chức Thủ tướng, ông hùng hồn tuyên bố: “Bất kể phía trước là bãi mìn hay là hố sâu vạn dặm, tôi sẽ không lùi bước. Xin cúc cung tận tụy, chết cũng không từ nan”.

 

Khi nhập thế, ông hăng say theo đuổi nhiệt tình. Khi xuất thế, ông sống đúng cương vị của mình, không muốn xuất hiện trước công chúng nữa.

 

Nhưng Chu Dung Cơ không ở ẩn mà vẫn sống với nhân dân cuộc sống bình yên, giản dị

 

Lê Huy Tiêu (tổng hợp), theo CAND

 

Hiểu đời

(Tác giả: Chu Dung Cơ)

 

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời,thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.


Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày.

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì.


Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi.

Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền,biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”.

Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.


Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.

Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

 

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư?
Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.


Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh).

Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.


Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.


Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.


Nguồn internet

 

 

Chu Dung Cơ

 

Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1928 tại Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Cha ông mất từ khi ông chưa sinh ra. Lên 10 tuổi ông mồ côi mẹ, ở với bác cả là Châu Học Phương. Chu Dung Cơ học sơ trung ở 2 trường là Sùng Đức và Quảng Tích. Học cao trung ở trường trung học tỉnh lập số 1. Từ năm 1947 đến năm 1951 học khoa cơ điện trường Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh). Đến năm thứ 3, Chu Dung Cơ giữ chức Chủ tịch hội sinh viên đỏ của trường.

 

Tháng 10 năm 1949, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 9 năm 1951 được đề bạt giữ chức Phó Văn phòng chủ nhiệm, làm thư ký cho Lý Phú Xuân. Tháng 10 năm 1951 làm việc tại phòng Kế hoạch sản xuất, Vụ Kế hoạch thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 12 năm 1952 tới Bắc Kinh làm tại Cục nhiên liệu và Động lực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đầu năm 1958 ông bị quy là "phần tử hữu phái chống Đảng" bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tới năm 1962 mới được phục hồi.

 

Năm 1970 lại bị đưa đi cải tạo ở Trường cán bộ 57 của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 1 năm 1987 ông trúng cử làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng. Giữ chức phó Bí thư Thượng Hải. Tháng 8 năm 1988 trúng cử chức Thị trưởng Thượng Hải. Tháng 8 năm 1989 ông kiêm nhiệm chức Bí thư thành ủy Thượng Hải.

 

Ngày 8 tháng 4 năm 1991, tại kỳ họp thứ 4 Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc khóa 7, ông được bầu giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Tháng 10 năm 1992 là Ủy viên thường vụ Ban chấp hành trung ương. Ngày 29 tháng 3 năm 1993 được bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng Thứ nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1993 kiêm chức Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc.

 

Tháng 3 năm 1998 trở thành Thủ tướng Trung Quốc. Ông giữ chức này cho tới tháng 3 năm 2003.

 

Nguồn: wikipedia