Nền kinh tế Angola đang từng bước được tái thiết sau hơn 20 năm nội chiến, tốc độ tăng trưởng cao, và lạm phát được được kiểm soát (từ 325% năm 2000 xuống còn 7,84% năm 2013). Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao sau nội chiến nhưng Angola vẫn là 1 quốc gia nghèo và lạc hậu, đa số người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Tuổi thọ trung bình của người dân chưa đến 50 tuổi do đói nghèo, bệnh tật. Nền kinh tế đất nước dựa chủ yếu vào sản xuất dầu mỏ. Ngoài ra, Angola cũng sở hữu nhiều mỏ vàng, kim cương, sắt, phốt phất, boxít và uranium.
Các chỉ số kinh tế (năm 2013):
- GDP: 127 tỷ USD
- GDP bình quân đầu người: 6500 USD
- Tăng trưởng GDP: 7,4%
- Tỷ lệ lạm phát: 7,84%
- Tỷ lệ thất nghiệp: 24,9%
GDP của Angola tăng mạnh từ 3,8% trong năm 2011 lên hơn 8% trong năm 2012, và đạt 7,4% trong năm 2013, chủ yếu là do giá dầu tăng và khu vực phi dầu mỏ tăng mạnh mẽ đã giúp bù đắp tác động của các vấn đề sản xuất trong ngành dầu khí. Tăng trưởng GDP dự báo tăng mạnh trong thời gian tới. Dự báo này dựa trên việc dự án 9 tỷ USD khí hóa lỏng (LNG) đi vào hoạt động và dự kiến tăng sản xuất dầu trên 2 triệu thùng/ngày. Angola có thể đạt được mục tiêu làm chậm lạm phát nhờ chính sách tiền tệ tập trung vào ổn định giá cả.
Angola tiếp tục thực hiện chương trình SBA của IMF, trong đó bao gồm thắt chặt tài khóa và tiền tệ và cải cách để cải thiện hệ thống tỷ giá hối đoái, cải thiện quản lý tài chính công; duy trì một hệ thống ngân hàng âm thanh; và minh bạch tài chính. Chính sách thương mại của Angola là tự do và thuế quan thấp. Thuế trung bình MFN áp dụng ở mức 7,3% (một trong những mức thấp nhất ở châu Phi) cùng 6 mức thuế khác từ 2% đến 30%. 100% các dòng thuế của Angola ràng buộc trong khuôn khổ WTO với tỷ lệ trung bình 59,2%. Mức thuế trung bình cho các sản phẩm nông nghiệp là 10% và 6,9% trên các sản phẩm phi nông nghiệp. Hàng nhập khẩu chịu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ và chi phí khác.
Về cơ cấu kinh tế, công nghiệp chiếm 61,4% GDP của Angola, với nhiều ngành khác nhau, trong đó khai khoáng đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Angola là dầu mỏ, vàng, kim cương, sắt, phốt phất, boxít, uranium, ximăng, các kim loại cơ bản, chế biến cá và thức ăn, thuốc lá, đường, dệt may, sửa chữa tàu... Trong đó dầu lửa chiếm tới 90% giá trị xuất khẩu của Angola. Nông nghiệp thu hút tới 85% lao động nhưng chỉ đóng góp khoảng 10,2% vào GDP của Angola, và hàng năm Angola vẫn phải nhập khẩu 1 nửa lượng lương thực phục vụ cho nhân dân. Angola sản xuất các loại nông sản chính như chuối, mía, cà phê, xi đan, ngô, bông, sắn, thuốc lá, rau, lâm sản, hải sản, cây mã đề, vật nuôi… Lĩnh vực dịch vụ của Angola khá phát triển, chiếm 28,4% GDP.
Về xuất nhập khẩu, năm 2013, ước tính, xuất khẩu của Angola đạt trên 80 tỷ đô-la Mỹ và nhập khẩu đạt trên 30 tỷ đô-la Mỹ. Dầu khí chiếm 97,5% kim ngạch xuất khẩu của Angola trong năm 2013, tiếp theo là kim cương (2%), khí tự nhiên và cà phê (0,5%). Trung Quốc chiếm 43,1% kim ngạch xuất khẩu của Angola, tiếp theo là Hoa Kỳ (23,2%), Ấn Độ (9,2%), Pháp (4,0%) và nước khác (20,5%). Nhập khẩu của Angola trong năm tiếp tục chủ yếu từ Bồ Đào Nha (17,9%), tiếp theo là Trung Quốc (14,3%), Mỹ (9,2%), Brazil (6,8%), và các nước khác (51,7%).
