1. Động thái doanh nghiệp, những yếu tố cốt lõi
Được khích lệ và hỗ trợ từ Viện nghiên cứu Cạnh tranh châu Á thuộc trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) và Quỹ châu Á (Asia Foundation), viện Nghiên cứu Phát triển Doanh nghiệp thuộc VCCI đã tiến hành những khảo sát về động thái doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2011, nhằm tạo cơ sở tin cậy cho những nội dung đề xuất về chính sách đối với doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu phân tích và tổ chức điều tra, nhóm dự án VbiS đã xem xét tổng hợp các tiêu chí động thái bao gồm:
- Động thái thực thấy (VBiSO);
- Động thái dự cảm (VbiSE);
- Động thái tổng hợp (VbiSI) để tìm căn cứ luận giải cho cả quá trình.
Theo đó, chỉ số động thái thực thấy VBiSO được xác định bằng hiệu số giữa tỉ lệ doanh nghiệp đánh giá thực thấy “tình hình tốt lên” và tỉ lệ doanh nghiệp đánh giá thực thấy “tình hình xấu đi” của từng lĩnh vực. Tương tự như VbiSO, động thái dự cảm VbiSE cũng được thể hiện bằng hiệu số tỉ lệ doanh nghiệp có đánh giá dự cảm “tình hình tốt lên” trừ đi tỉ lệ doanh nghiệp có dự cảm “tình hình xấu đi”. Riêng chỉ số động thái tổng hợp VbiSI được các nhà phân tích coi là chỉ số trung bình tích hợp của chỉ số động thái thực thấy và động thái dự cảm (VBiSI=(100+VbiSO)(100+VbiSE)1/2-100).
Lưu ý là các chỉ số >0, phản ánh động thái được cải thiện; <0, cho thấy tình hình xấu đi, động thái không thay đổi khi =0. Dựa trên kết quả điều tra khảo sát,xem xét tổng hợp cả 3 động thái trên đây sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách, tổ chức quản lý có được bức tranh tổng thể về những yếu tố thành phần; qua đó sẽ cụ thể hóa việc đánh giá dộng thái doanh nghiệp cả về tầm rộng lẫn chiều sâu.
2.Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2011
Tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được xem xét trên các mặt doanh thu; giá thành, giá bán sản phẩm; lợi nhuận; năng suất lao động; hiệu suất sử dụng thiết bị; sản phẩm tồn kho và mức độ sử dụng lao động. Phân tích số liệu điều tra khảo sát, báo cáo VBiS nhận định, các doanh nghiệp bước đầu đã vượt được tình trạng khó khăn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhìn chung, trong quý I/2011, SXKD của doanh nghiệp cơ bản ổn định, đang có chiều hướng tốt lên (42% cho rằng ổn định; 18% gặp khó khăn; 40% tự đánh giá tốt hơn).
Nghiên cứu chi tiết các hoạt động, VBiS rút ra yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất kinh doanh là chi phí đầu vào trên một đơn vị sản phẩm gia tăng; nhưng giá bán lại khó tăng. 64,5% số doanh nghiệp khảo sát cho rằng chi phí đầu vào tăng, nhưng 43% doanh nghiệp không tăng được giá bán, thậm chí 14% doanh nghiệp còn phải giảm giá. Những khó khăn trong bối cảnh thị trường thế giới khiến 33,3% doanh nghiệp có chỉ số lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm giảm đi.
Cùng với chuyển biến tích cực trong yếu tố thực thấy cấu thành SXKD, động thái thực thấy của năm 2010 và dự cảm quý I/2011cũng phát triển theo xu hướng phù hợp. Kết quả điều tra và phân tích động thái thực thấy VBiSO, động thái dự cảm VbiSE và động thái tổng hợp VbiSI của các yếu tố thành phần cho thấy, về tổng thể, sản xuất kinh doanh tăng không đáng kể (VBiSI 21); doanh số có xu hướng gia tăng cao nhất (VbiSI 47,5), năng suất lao động đứng thứ 2 (VbiSI 37,5, nhưng thấp hơn VbiSO 2010 đạt 43), động thái hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị tổng hợp VbiSI 2011 đạt 26,8 (thấp hơn VBiSO 2010 có mức 34); đạt thấp nhất về chỉ số động thái tổng hợp là năng suất lao động, VBiSI 2011 chỉ ở mức 6,5.
3. Xu thế tái cấu trúc doanh nghiệp
Điều tra khảo sát tình hình được xem xét trên tiêu chí nỗ lực tham gia và mức độ hài lòng với kết quả đạt được của các doanh nghiệp. Thông thường sau khủng hoảng, mỗi nền kinh tế và mỗi doanh nghiệp đều phải tiến hành tái cấu trúc.Nội dung điều tra đã tập trung vào tiêu chí tổng thể được cụ thể hóa trong tăng năng suất lao động; chất lượng, giá trị sản phẩm; giảm giá thành và mở rộng thị trường. Phân tích kết quả khảo sát cho thấy, 85% số doanh nghiệp đã nỗ lực cao và 86% hài lòng với kết quả đạt được trong quá trình TCT. Tuy nhiên, đi sâu vào những nội dung cụ thể thì số doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra còn ở mức thấp. Về tăng năng suất lao động, doanh nghiệp hài lòng ở mức 78,1%; kết quả đạt được trong mở rộng thị trường ở mức 68,8% và thấp nhất là giảm giá thành, chỉ đạt 52,6%.
4. Nhân tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh
4.1.Yếu tố tác động: Kết quả khảo sát cũng đã chỉ ra, điều kiện phục vụ sản xuất kinh doanh quý I/2011 chưa có thay đổi so với quý IV/2010 (52% cho rằng không đổi, 25% không rõ rệt, 11% kém đi và 12% đánh giá tốt hơn). Khoảng 50% doanh nghiệp được hỏi cho rằng, gia tăng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế cùng với tiếp cận thông tin thị trường KH&CN là những yếu tố tác động tích cực đến hoạt động doanh nghiệp. Các yếu tố về điều kiện hạ tầng tiện ích, giao thông và mặt bằng mở rộng sản xuất chưa thay đổi, ít có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực hơn quý IV/2010. Ngược lại, các yếu tố đầu vào bao gồm vốn, nguyên, nhiên vật liệu và lao động có tay nghề lại có nhiều ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất kinh doanh. So với năm Quý IV/2010, tỷ lệ kém đi trong Quý I/2011 lần lượt là 30,9% trong tiếp cận vốn vay, 24,7% về giá thành sản xuất, 19,8% về cung ứng lao động kỹ năng, 18,5% về nhu cầu thị trường quốc tế và 12,3% về nhu cầu nội địa.
4.2.Dự cảm yếu tố tác động trực tiếp: Những yếu tố tác động được phân tích trên cơ những chỉ số động thái thực thấy (VbiSO) năm 2010 và dự cảm (VbiSE) trong năm 2011.Phân tích kết quả điều tra cho thấy, động thái tổng hợp(VbiSI) về tiếp cận thông tin thị trường công nghệ, điều kiện hạ tầng giao thông, nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế đều thấp hơn dự cảm, song cao hơn thực thấy của năm 2010; VbiSI về điều kiện hạ tầng tiện ích tương tự như động thái thực thấy song thấp hơn 1điểm % so với dự cảm. Đặc biệt, gia tăng mạnh mẽ khả năng tiếp cận thông tin thị trường công nghệ (VbiSI đạt 51 cao hơn thực thấy 2010) giúp các doanh nghiệp hoạt động năng động và hiệu quả hơn, điều này chứng tỏ đầu tư của Chính phủ vào công nghệ thông tin đã thu được kết quả đáng mừng.
Đáng quan ngại là nhân tố đầu vào và đầu ra của sản xuất kinh doanh đều đạt thấp cả về động thái thực thấy và dự cảm. Về tiếp cận vốn vay, mọi chỉ tiêu động thái đều có giá trị âm (VbiSO= -6; VbiSE= -3 và , VbiSI= -4); cấp đất và giải phóng mặt bằng đạt rất thấp (VbiSO=1; VbiSE=6 và VbiSI=4); cung ứng lao động có tay nghề được cải thiện song động thái tổng hợp ở mức thấp (VbiSO=-2, VbiSE=13 và VbiSI chỉ đạt 5). Trong tình hình biến động của thị trường, giá thành sản xuất chưa được cải thiện, chỉ tiêu động thái này không thay đổi (VbiSO, VbiSE và VbiSI dừng ở mức 6). Ngoại trừ yếu tố lao động lành nghề được kỳ vọng cải thiện, các yếu tố còn lại đều đạt ở mức độ rất thấp; điểm yếu này tồn tại từ lâu song chậm khắc phục, đòi hỏi phải có giải pháp quyết liệt từ chủ trương và chính sách nhà nước .
5. Tác động chính sách và điều hành vĩ mô
5.1. Ảnh hưởng môi trường luật pháp và kinh tế vĩ mô: Báo cáo VbiS quý I/2011 cho biết, 47% số doanh nghiệp điều tra đánh giá môi trường pháp lý và kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện so với quý IV/2010; 26,5% cho rằng được hưởng lợi, ngược lại 20,5% nhận định ảnh hưởng tiêu cực đến từ những nhân tố này khá cao.
Ổn định kinh tế vĩ mô là vấn đề được Chính phủ quan tâm thúc đẩy; song khi đánh giá ảnh hưởng kinh tế vĩ mô đến hoạt động SXKD, 40% doanh nghiệp cho rằng chịu tác động tiêu cực, chỉ có 18,8% cảm thấy có tác động tốt. Về thái độ, ý thức trách nhiệm và năng lực của cán bộ công quyền, hiệu lực thực thi và áp dụng những quy định pháp lý tuy được cải thiện, song phần lớn doanh nghiệp cảm nhận chưa thay đổi so với quý IV/2010.
5.2. Động thái liên quan đến chính sách và điều hành vĩ mô: Yếu tố liên quan đến chính sách và điều hành vĩ mô thể hiện nỗ lực của Chính phủ để nâng cao chất lượng chính sách và hiệu lực điều hành đã được ghi nhận; cộng đồng doanh nghiệp đang kỳ vọng vào những chuyển biến thuận lợi này.Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đem lại những tác động cần thiết, doanh nghiệp vẫn còn lo ngại về vấn đề này. Kết quả điều tra khảo sát cho thấy, mặc dù động thái dự cảm có lạc quan hơn song về tổng thể, động thái tổng hợp VbiSI 2011 pháp lý và ổn định kinh tế vĩ mô còn ở mức thấp (17); các nhân tố chất lượng, trách nhiệm năng lực cán bộ công quyền, hiệu lực thực thi có xu hướng cải thiện song VbiSI đạt chưa cao, ổn định kinh tế vĩ mô ở mức thấp nhất có giá trị âm (-9). Theo các nhà phân tích, trở ngại chính không phải ở chất lượng chính sách và điều hành cụ thể tại doanh nghiệp mà có thể là do sai lệch trong chiến lược phát triển đã dẫn đến thâm hụt ngân sách, đầu tư thiếu hiệu quả và lãi suất quá cao. Kết quả điều tra khảo sát cũng cho thấy, trên 85% doanh nghiệp phải vay với mức lãi suất trên 12-13%; là mức cao, khó có thẻ chịu đựng được lâu dài.
6. Khuyến nghị chính sách từ tầm nhìn doanh nghiệp
Nhằm cải thiện môi trường kinh doanh trong năm 2011; từ tầm nhìn doanh nghiệp, hầu hết các nhà quản lý cho rằng, nhiệm vụ trước tiên và quan trọng nhất của Chính phủ phải nhằm vào ổn định kinh tế vĩ mô. Việc ổn định vĩ mô không chỉ giúp doanh nghiệp có điều kiện phát triển tốt hơn mà quan trọng là tạo tiền đề để hoạch định chiến lược kinh doanh lâu dài và bền vững; tiếp sau nhiệm vụ này, điều cần là Chính phủ có biện pháp giảm lãi suất tiền vay và kiểm soát tham nhũng. Có thể nói, đây là 3 vấn đề quan trọng nhất, cần tạo được những đột phá trong thời gian tới.
Về những nội dung khuyến nghị chính sách xếp theo tầm quan trọng theo thang điểm đầu tiên là ổn định kinh tế vĩ mô (mức 177), tiếp là giảm lãi suất tiền vay (147) , kiểm soát tham nhũng (133). Kế tiếp những vấn đề này, 5 nội dung quan trọng khác được nhấn mạnh là tính minh bạch và nhất quán của hệ thống pháp lý, chính sách (mức 90); kiểm tra chất lượng, chống hàng giả và gian lận thương mại (mức 89); tạo sân chơi bình đẳng không phân biệt thành phần sở hữu (88); cung ứng điện ổn định (82); hỗ trợ ưu đãi đầu tư chiều sâu (76). Những đề suất còn lại là tăng cường chất lượng nhân lực, mặt bằng sản xuất, thông tin thị trường, hạ tầng giao thông và thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp (dao động từ mức 21 đến 40)
Trên đây là một số nội dung cốt lõi từ báo cáo khảo sát động thái doanh nghiệp Việt Nam quý I/2011 xin nêu ra để cùng trao đổi.
Động thái doanh nghiệp Quý I/ 2011
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu hồi phục. Bằng những nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD) đã gia tăng và tăng trưởng GDP cả n
