Vậy là từ nay trở đi, các doanh nghiệp sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ kết hối ngoại tệ ( các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ vãng lai phải bán toàn bộ hoặc một phần cho ngân hàng) mà đã phải thực thi trong suốt gần 5 năm qua để trở về hoạt động bình thường, theo những quy luật của kinh tế thị trường...Với việc bãi bỏ này, theo đánh giá của các nhà kinh tế, chính là một trong những bằng chứng mà Việt Nam muốn chứng minh cho cộng đồng thế giới biết rằng, kể từ nay trong lĩnh vực ngân hàng, Nhà nước chỉ dùng biện pháp kinh tế thay thế cho những mệnh lệnh hành chính can thiệp vào công việc kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp, cái mà lâu nay các tổ chức tài chính quốc tế thường hay phàn nàn...
Từ biện pháp "đối phó" với cuộc
khủng hoảng tiền tệ...
Theo Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì chính sách kết hối hiện hành thực chất là việc bắt buộc doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ vãng lai (từ xuất khẩu, hàng hoá, dịch vụ, lãi đầu tư....); trong đó, phần lớn là nguồn thu từ xuất khẩu và dịch vụ phải bán toàn bộ hoặc một phần cho ngân hàng. Đây là một biện pháp tạm thời nhằm bảo đảm ổn định thị trường ngoại hối khi cần thiết. Cũng theo NHNN, ngay cả đối với những nước phát triển, khi cung cầu ngoại tệ trong nước mất cân đối, buộc ngân hàng trung ương phải sử dụng đến giải pháp hạn chế chi ngoại tệ ra thị trường đồng thời kích thích thu hút lượng ngoại tệ lớn vào dự trữ (nhằm cân đối ngoại tệ). Nhớ lại vào những năm 1997- 1998, khi ở khu vực Đông á và Đông Nam á xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, kéo theo đồng tiền Việt Nam bị mất giá so với các đồng ngoại tệ khác, mà đặc biệt là đồng USD, thì hầu hết các ngân hàng thương mại có xu hướng găm giữ ngoại tệ, mà không chịu bán ra vì lo sợ VNĐ tiếp tục mất giá... làm cho thị trường tiền tệ trong nước bị đóng băng. Hậu quả là các doanh nghiệp muốn đến ngân hàng mua ngoại tệ dùng cho việc thanh toán cũng không mua được... gây ra tình trạng căng thẳng cung cầu ngoại tệ lên đến mức đỉnh điểm trong một thời gian tương đối dài. Đứng trước tình trạng đáng lo ngại trên, nhằm bình ổn thị trường tiền tệ trong nước, nên ngày 12.9.1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 173/1998/ QĐ-TTg về việc buộc các tổ chức kinh tế phải bán ngay 80% các nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch vãng lai cho ngân hàng; còn các tổ chức chính trị, xã hội khác thì phải bán 100%. Chính nhờ biện pháp can thiệp mang tính hành chính này mà chỉ trong một thời gian ngắn, thị trường tiền tệ trong nước đã dần bình ổn trở lại.
... Đến việc bãi bỏ hoàn toàn
Để đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ đã ở mức tương đối ổn định, nên trong vòng 5 năm qua Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần ra quyết định điều chỉnh theo hướng giảm dần mức kết hối ngoại tệ đối với các doanh nghiệp. Theo đó, năm 1999, từ chỗ các doanh nghiệp phải bán 80% các nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch cho ngân hàng xuống còn mức 50%; năm 2001 xuống mức 40% và năm 2002, xuống chỉ còn 20%. Tuy là xuống ở mức tương đối thấp như vậy, nhưng theo đánh giá của giới doanh nghiệp và các tổ chức tài chính quốc tế thì nó vẫn còn có sự can thiệp bằng biện pháp hành chính từ phía Nhà nước, nếu xét trên góc độ của kinh tế thị trường thì không còn phù hợp...còn về phía nước ngoài thì có cơ hội để rêu rao rằng, Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường.
Do đó, với quyết tâm “cởi trói” cho doanh nghiệp theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp cũng như lời hứa của Thủ tướng trong lần gặp gỡ với giới doanh nhân tổ chức vừa qua tại tp. Hồ Chí Minh và cũng là việc làm để chứng minh cho cộng đồng thế giới thấy, nền kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng... Ngày 2.4. 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 46/2003/ QĐ- TTg tiếp tục cắt giảm mức kết hối cho các doanh nghiệp xuống còn 0% (có hiệu lực sau 15 ngày kể từ khi quyết định được đăng trên công báo). Với quyết định này, theo nhận xét của các quan chức ngân hàng cũng như những chuyên gia kinh tế thì nó không những bãi bỏ đựơc sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính lỗi thời đối với doanh nghiệp, mà xét trên góc độ vĩ mô, nó còn thể hiện được hai vấn đề quan trọng:
Thứ nhất, nó chứng minh được rằng, ở thời điểm hiện tại các chỉ số kinh tế vĩ mô ở Việt Nam đã và đang phát triển một cách vững chắc, cán cân thanh toán quốc tế và cung cầu ngoại tệ tương đối được cân bằng. Đây chính là một trong những yếu tố tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài quay trở lại và tiếp tục đầu tư tại Việt Nam.
Thứ hai, qua lần cắt giảm này cũng chính là thông điệp gửi đến cho cộng đồng thế giớí biết, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành, phát triển theo quỹ đạo của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế một cách bền vững. Và đây cũng là cam kết của chúng ta với quốc tế rằng, từ nay, thay vì phải dùng đến biện pháp hành chính để can thiệp vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp, Việt Nam đã sử dụng những biện pháp kinh tế mang tính thị trường hơn.
Và như vậy, kể từ đầu tháng 5.2003 tất cả các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế không phải thực hiện nghĩa vụ kết hối như trưóc đây; còn quyền mua ngoại tệ dùng trong việc sản xuất, thanh toán vẫn diễn ra bình thường như các quy địng hiện hành. Cái chính là sự cắt giảm lần này sẽ được diễn ra trong bao lâu? Về vấn đề này, một quan chức ở NHNN cho biết kể từ nay trở đi cố gắng không dùng đến công cụ hành chính để can thiệp vào công việc làm ăn của cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh nào đó mà có tác động xấu đến thị trường ngoại hối, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì vẫn có khả năng điều chỉnh trở lại...bài học Trung Quốc đang áp dụng hiện nay và nước Nga đã áp dụng thành công vừa qua là một minh chứng sinh động./.
