Giá dầu giảm - Dư cung hay phần chìm của tảng băng

Giá dầu thế giới đã giảm 2,31 lần, từ mức100 USD/thùng vào đầu năm 2014 xuống còn 41 USD/ thùng như hiện nay, chạm ngưỡng thấp nhất kể từ năm 2009. Nhưng sự sụt giảm này cũng chưa đủ để tạo áp lực cho các nước xuất khẩu dầu mỏ cắt giảm sản xuất ngay cả khi yếu tố mùa vụ đang bất lợi cho họ (mùa hè, mùa cao điểm tiêu thụ dầu mỏ sắp qua đi).

Thực tế cho thấy các quốc gia xuất khẩu dầu thuộc OPEC vẫn tiếp tục duy trì sản lượng để có nguồn thu ngân sách và giữ thị phần. Trong tháng 7, nhóm này tăng sản lượng khai thác dầu thêm 100.700 thùng/ngày, lên mức 31,5 triệu thùng/ngày, mức cao nhất kể từ tháng 6/2012.

Ở góc nhìn kinh tế, có thể thấy phụ thuộc phần lớn vào nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ, các nước xuất khẩu dầu không thể đánh cược rủi ro tăng trưởng GDP và thu ngân sách trong năm 2015 bằng việc giảm sản lượng dầu thô khai thác và xuất khẩu.

Nhưng ở một góc nhìn “địa chính trị”, tình trạng dư cung có thể đã được khuếch đại bởi vấn đề hạt nhân của Iran. Nếu thỏa thuận về vấn đề hạt nhân tại khu vực này không được thúc đẩy, nhiều khả năng giá dầu sẽ vẫn bị bóp méo bởi các vấn đề đang nóng ở Trung Đông. Ả rập Xê út - đối thủ truyền kỳ của Iran trên thị trường dầu mỏ có thể chấp nhận giá dầu giảm xuống mức thấp nhất nhưng vẫn cung ứng lượng dầu kỷ lục ra thị trường, họ đủ năng lực tài chính để duy trì vị thế trên bản đồ dầu thế giới trong nhiều năm nữa. Trong khi đó, Iran không đủ sự linh hoạt về tài chính, cần giá dầu sớm tăng trở lại để đảm bảo nguồn thu cho quốc gia. Nếu giá dầu tiếp tục giảm sâu, Ả rập Xê út sẽ có lợi thế hơn so với đối thủ của mình, do đó phần chìm của tảng băng có thể là một cuộc chiến giá dầu mang đầy màu sắc “địa chính trị”…

Mặc dù Mỹ giảm mạnh khoản đầu tư vào các giàn khoan mới, song sản lượng khai thác tại quốc gia này đang ở mức cao nhất trong vài thập kỷ qua. Dự trữ dầu tại tổng kho Cushing của Mỹ tiếp tục tăng trong tuần trước, sau thời điểm cao kỷ lục hồi tháng 4.

Ở phía các thị trường tiêu thụ, mùa hè sắp qua đi, cũng đồng nghĩa với việc mức tiêu thụ dầu sẽ giảm xuống sau mùa du lịch. Nếu nguồn cung không được điều chỉnh, giá dầu sẽ còn giảm sâu hơn nữa, thậm chí một số cơ quan nghiên cứu thị trường trên thế giới dự báo dầu giảm đến mức 15-20 USD/thùng vào cuối năm nay. Người tiêu thụ dầu mỏ có thể vui vẻ đón nhận thông tin này. Nhưng thực tế cho thấy, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) hạ tỷ giá tham chiếu của đồng Nhân dân tệ, dẫn đến tâm lý lo ngại nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu của Trung Quốc có thể giảm xuống trong thời gian tới khi đồng nội tệ xuống giá của nước này đẩy giá nhập khẩu tăng.

                                                                                    Nguồn: Cơ sở dữ liệu Tạp chí Công Thương

Những tác động đến kinh tế Việt Nam

Do Việt Nam xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu xăng dầu nên giá dầu giảm sẽ có tác động hai chiều đến nền kinh tế.

Nhìn chung giá xuất khẩu dầu thô và giá nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam diễn biến cùng chiều và phụ thuộc vào giá dầu thế giới nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam, từ đó có tác động lan tỏa sang các hoạt động khác của nền kinh tế và đến nguồn thu ngân sách.

                                                                                    Nguồn: Cơ sở dữ liệu Tạp chí Công Thương

Ở chiều tiêu cực, dễ nhìn thấy nhất là doanh thu từ xuất khẩu dầu thô và hoạt động khai thác dầu giảm sẽ tác động trực tiếp đến nguồn thu ngân sách của Nhà nước (NSNN). Ước tính nếu giá dầu năm 2015 đạt trung bình 45 USD/thùng (7 tháng đầu năm trung bình đạt 49,3USD/thùng) thì ngân sách Nhà nước có thể giảm tới khoảng 7.000 tỷ đồng, dự trữ ngoại hối cũng sẽ giảm trên 1 tỷ đồng. Trong kịch bản giá dầu sâu hơn, xuống mức trung bình khoảng 30 USD/thùng (tức là 5 tháng cuối năm chỉ đạt khoảng 15-20 USD/thùng) thì nguồn thu thuế sẽ giảm tới trên 8.500 tỷ đồng. Theo ước tính của TS. Nguyễn Đình Ánh (2015), do thu từ dầu thô gồm thuế tài nguyên và thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ 10,2% trong dự toán thu NSNN năm 2015 với 93.000 tỷ đồng, tuy đã giảm so với tỷ lệ 12,6% tổng thu NSNN thực hiện năm 2014 song con số nguồn thu từ dầu thô sụt giảm sẽ ảnh hưởng tới khả năng thực hiện dự toán thu NSNN năm 2015. Đó là chưa kể các khoản thu thuế Giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu và thuế Bảo vệ môi trường, hàng nhập khẩu vốn chịu tác động mạnh của giá xăng dầu nhập khẩu cũng chiếm tới 19,2% tổng dự toán thu NSNN năm 2015. Dự báo thu NSNN từ dầu thô năm 2015 khó có thể đạt dự toán 93.000 tỷ đồng do việc tăng sản lượng khai thác không dễ dàng, thậm chí còn cần giảm sản lượng khai thác do diễn biến giá cả không thuận lợi.

Ở chiều tích cực, giá dầu thô giảm nếu kéo theo giá xăng dầu nhập khẩu giảm tương ứng thì sẽ giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất và vận chuyển, do đó kích thích nền kinh tế và góp phần kiềm chế lạm phát cả năm 2015 dưới 5%. Điều này gián tiếp tạo nguồn thu NSNN từ hoạt động sản xuất - kinh doanh và xuất khẩu phi dầu thô, bù đắp cho khoản hụt thu từ khai thác và xuất khẩu dầu thô cũng như từ nhập khẩu xăng dầu thành phẩm.

Nhưng nhìn từ biểu đồ tương quan giữa kim ngạch và xuất khẩu dầu thô với kim ngạch và giá nhập khẩu xăng dầu vào Việt Nam có thể thấy khoảng cách giữa kim ngạch nhập khẩu xăng dầu và kim ngạch xuất khẩu dầu thô doãng ra trong những tháng gần đây do chênh lệch giữa giá nhập khẩu xăng dầu và giá xuất khẩu dầu thô. Như vậy, nếu giá xăng dầu giảm nhẹ hơn so với giá xuất khẩu dầu thô, thì với những gì đã diễn ra trong 7 tháng đầu năm có thể thấy, tỷ lệ chênh lệch kim ngạch xuất nhập khẩu sẽ luôn cao hơn so với tỷ lệ chênh lệch về giá (%). Nhập siêu xăng dầu tất yếu sẽ gia tăng mạnh. Đó là chưa kể đến sự gia tăng nhập khẩu các phương tiện đi lại, đặc biệt là ô tô.

Cán cân xuất nhập khẩu: Mừng hay lo?

Về lý thuyết tất cả các ngành hàng sử dụng nhiều nhiên liệu sẽ có lợi trong việc giảm chi phí sản xuất khi giá xăng dầu giảm. Giá dầu giảm cũng sẽ kích thích hoạt động sản xuất tại nhiều quốc gia nhập khẩu, giúp tiêu dùng và nhập khẩu sôi động hơn, cơ hội xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng lên.

Nhưng thực tế, giá xăng dầu giảm trên toàn thế giới nên chi phí sản xuất tại nhiều nước đối thủ xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm, do đó không thể coi giá dầu giảm nghiễm nhiên tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Trong bối cảnh này, những nước xuất khẩu chủ động hơn về giá xăng dầu sẽ có lợi thế hơn so với các nước khác.

                                                                                    Nguồn: Cơ sở dữ liệu Tạp chí Công Thương

Câu hỏi đặt ra là liệu xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị tác động thế nào khi kinh tế của các nước xuất khẩu dầu bị ảnh hưởng. Lấy trường hợp thị trường Nga, thị trường truyền thống của Việt Nam, do ảnh hưởng của giá dầu giảm và các lệnh trừng phạt của phương Tây, trong quý II vừa qua, GDP của Nga giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Theo tính toán của các chuyên gia quốc tế, nếu giá dầu giảm xuống 40 USD/thùng, nguồn vốn của nước Nga bị thâm hụt gần 600 tỷ Rúp và tỷ lệ nợ xấu tăng gấp 2 lần. Đồng Rúp giảm xuống còn 65 đồng đổi một USD vào cuối năm 2015, khiến kinh tế Nga bị suy giảm tới 5% trong năm nay và 1% vào năm 2016. Điều này tất yếu sẽ tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nga.

Ở chiều nhập khẩu, giá xăng dầu giảm trên toàn cầu có thể giúp giá nhiều loại hàng hóa nhập khẩu cũng giảm theo. Với xu hướng nhập siêu liên tiếp trong 7 tháng đầu năm, giá nhập khẩu giảm liệu có thể kích thích nhập khẩu tiếp tục tăng? (Chỉ số Bloomberg Commodity Index, thước đo giá của 22 loại hàng hóa cơ bản do Bloomberg thực hiện, đã có tháng giảm mạnh nhất kể từ năm 2011 trong tháng 7/2015 do nhu cầu của Trung Quốc giảm trong khi nguồn cung lại dồi dào). Cán cân thương mại hàng hóa liên tục thâm hụt trong 7 tháng đầu năm (trừ tháng 4/2014), nếu nhập siêu tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ ngoại hối của nước ta.

                                                                                   Nguồn: Cơ sở dữ liệu Tạp chí Công Thương

Tóm lại, giá dầu ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam theo các chiều hướng khác nhau, trong đó việc giảm kim ngạch xuất khẩu và nguồn thu ngân sách từ dầu thô là tất yếu khách quan. Nhưng khả năng kích thích nền kinh tế, giảm chi phí sản xuất và tạo các nguồn thu bù đắp từ các hoạt động kinh tế khác lại phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của Nhà nước và các thành phần kinh tế, nhất là khi giá dầu giảm sẽ tạo ra cơ hội giảm chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp tại nhiều nước chứ không riêng Việt Nam. Nếu giá xăng, dầu phục vụ sản xuất không giảm tương ứng với mức giảm tại các nước khác, nếu năng lực cạnh tranh không được đảm bảo bằng chất lượng và kỹ năng thương mại, thì giá dầu giảm chưa chắc đã kích thích các hoạt động kinh tế của Việt Nam trong những tháng cuối năm, và ngược lại…