Tóm tắt:
Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định du lịch xanh của du khách nội địa đối với các điểm đến phía Bắc Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy hành vi du lịch thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thông qua dữ liệu thu thập từ khảo sát du khách nội địa và phân tích bằng các phương pháp định lượng trên phần mềm SPSS 26. Kết quả cho thấy 6 yếu tố ảnh hưởng gồm: Chuẩn mực chủ quan; Thái độ của du khách; Cảm nhận kiểm soát hành vi; Hình ảnh điểm đến; Trải nghiệm điểm đến xanh và truyền thông môi trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần hỗ trợ các điểm đến phía Bắc phát triển du lịch theo hướng xanh, bền vững.
Từ khóa: du lịch xanh, ý định du lịch, du khách nội địa, điểm đến phía Bắc.
1. Đặt vấn đề
Du lịch xanh được xem là một hướng tiếp cận phù hợp nhằm hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế du lịch, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc triển khai du lịch xanh không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch, mà còn chịu tác động đáng kể từ nhận thức, thái độ và đặc biệt là ý định lựa chọn du lịch xanh của du khách. Nhiều du khách chưa thực sự nhận thức đầy đủ về lợi ích của du lịch xanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu; đồng thời còn tồn tại các rào cản liên quan đến chi phí, tiện ích, thông tin, chất lượng dịch vụ và niềm tin vào cam kết xanh của điểm đến. Điều này cho thấy, khoảng cách nhất định giữa chủ trương phát triển du lịch xanh và hành vi tiêu dùng thực tế của du khách. Chính vì vậy, nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao ý định du lịch xanh nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu của du khách nội địa đối với các điểm đến phía Bắc là cần thiết và có ý nghĩa, đây là căn cứ quan trọng giúp các nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương xây dựng chiến lược phát triển du lịch phù hợp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Du lịch xanh là một hình thức của du lịch bền vững, hướng tới sự hài hòa giữa bảo vệ môi trường, gìn giữ giá trị văn hóa địa phương và bảo đảm lợi ích kinh tế cho cộng đồng sở tại (Goodwin, 1996; Mason, 2020). Loại hình du lịch này nhấn mạnh việc tổ chức các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo tồn đa dạng sinh học (Furqan và cộng sự, 2010; Hasan, 2015). Mặc dù đôi khi được sử dụng tương đồng với du lịch sinh thái hoặc du lịch bền vững, du lịch xanh nhấn mạnh hơn quá trình “xanh hóa” toàn bộ chuỗi giá trị du lịch, từ quy hoạch điểm đến đến hành vi tiêu dùng của du khách (Sanjaya, 2023). Không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, du lịch xanh còn tạo ra lợi ích kinh tế bền vững, nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hình thành hành vi du lịch có trách nhiệm, qua đó đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu (Honey, 2008; Stronza & Gordillo, 2008; Nguyễn Văn Đính, 2021; Wear & Neil, 2009).
Lý thuyết Hành vi hoạch định (TPB) do Ajzen đề xuất từ năm 1985 và hoàn thiện trong các nghiên cứu sau đó, là một trong những khung lý thuyết phổ biến nhằm giải thích và dự đoán hành vi của con người thông qua ý định hành vi. Theo TPB, ý định chịu sự chi phối của 3 yếu tố cốt lõi gồm: thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi, qua đó phản ánh mức độ sẵn sàng của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Nhờ tính logic và khả năng khái quát cao, lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng và hành vi thân thiện với môi trường. Ngoài ra, TPB có thể được mở rộng bằng cách bổ sung các yếu tố bối cảnh nhằm nâng cao sức mạnh giải thích hành vi. Trong nghiên cứu về du lịch xanh, nhiều tác giả đã đề xuất mở rộng TPB thông qua việc đưa thêm các biến như hình ảnh điểm đến, truyền thông môi trường và khuyến khích, ưu đãi, qua đó làm rõ hơn ý định lựa chọn du lịch xanh của du khách trong bối cảnh phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu (Luong & Nguyen, 2025; Zhang & Chan, 2021).
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu ý định du lịch xanh của du khách nội địa với các yếu tố như tại Hình 1.
H1: Thái độ của du khách có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
H2: Cảm nhận kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
H3: Chuẩn mực chủ quan có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
H4: Hình ảnh điểm đến có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
H5: Truyền thông môi trường có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
H6: Trải nghiệm điểm đến xanh có tác động tích cực đến ý định du lịch xanh.
Từ mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương trình nghiên cứu được viết ở dạng tổng quát như sau:
YD = β0 + β1*TD + β2*KS + β3*CM + β4*HA + β5*TT + β6*TN + e
Trong đó:
YD (Yếu tố phụ thuộc): Ý định du lịch xanh
Các yếu độc lập bao gồm (Xi): Thái độ của du khách (TD); Cảm nhận kiểm soát hành vi (KS); Chuẩn mực chủ quan (CM); Hình ảnh điểm đến (HA); Truyền thông môi trường (TT); Trải nghiệm điểm đến xanh (TN).
βk: Hệ số hồi quy (k = 0, 1, 2,...,6).
e: Sai số ngẫu nhiên
3. Phương pháp nghiên cứu
i) Nghiên cứu định tính: Thang đo sơ bộ được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan kết hợp thảo luận với một số du khách nội địa và tham vấn ý kiến các chuyên gia trước đó để xem xét nội dung các yếu tố, biến quan sát nhằm hiệu chỉnh từ ngữ để xây dựng thang đo chính thức phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu.
ii) Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (Mức 1 - Rất không đồng ý đến Mức 5 - Rất đồng ý). Phiếu khảo sát được phát ra thực tế tuân thủ theo cỡ mấu tốt nhất (10:1) khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair và cộng sự (2010). Bằng phương pháp phi xác suất thuận tiện, phiếu khảo sát được phát trực tiếp đến các du khách nội địa tại một số điểm đến nổi bật về du lịch xanh khu vực miền Bắc. Thời gian khảo sát diễn ra từ tháng 4/2025 đến tháng 8/2025. Kết quả sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ thu về được 295 phiếu đủ điều kiện đưa vào phân tích trên phần mềm SPSS26 để kiểm định giả thuyết với mức ý nghĩa 5%.
4. Kết quả nghiên cứu
Bảng 1. Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số nhân tố khám phá EFA và hệ số tương quan Pearson
|
Các yếu tố |
Số biến quan sát |
Hệ số Cronbach’s Alpha |
Hệ số tương quan biến tổng nhỏ nhất |
Hệ số tải nhân tố nhỏ nhất |
Hệ số tương quan Pearson |
|
TD |
4 |
0,805 |
0,543 |
0,765 |
0,638** |
|
KS |
5 |
0,798 |
0,617 |
0,779 |
0,594** |
|
CM |
3 |
0,814 |
0,529 |
0,743 |
0,602** |
|
HA |
5 |
0,823 |
0,634 |
0,758 |
0,615** |
|
TT |
4 |
0,769 |
0,571 |
0,762 |
0,573** |
|
TN |
4 |
0,787 |
0,518 |
0,771 |
0,676** |
|
Hệ số KMO = 0,786; Hệ số Eigenvalue = 1,131; Tổng phương sai trích = 72,918% |
|||||
|
Kiểm định Barlett’s |
Chi bình phương xấp xỉ |
6187,329 |
|||
|
df |
385 |
||||
|
Sig. |
0,000 |
||||
|
YD |
5 |
0,835 |
0,586 |
0,784 |
1,000 |
|
Hệ số KMO = 0,779; Hệ số Eigenvalue = 1,524; Tổng phương sai trích = 73,576% |
|||||
|
Kiểm định Barlett’s |
Chi bình phương xấp xỉ |
259,147 |
|||
|
df |
5 |
||||
|
Sig. |
0,000 |
||||
|
Ghi chú: ** tương ứng với p < 0,01 |
|||||
(Nguồn: Phân tích của tác giả)
Kết quả kiểm định độ tin cậy tại bảng 1 cho thấy, các yếu tố độc lập đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,7 và hệ số tương quan biến tổng > 0,4 nên thang đo đạt được độ tin cây và giá trị phân biệt. Thực hiện phân tích EFA với phép quay varimax và phương pháp trích Components cho thấy các biến quan sát trong thang đo đều đạt chất lượng bởi hệ số tải nhân tố đều > 0,5 và không có biến quan sát nào bị loại khỏi thang đo. Hệ số KMO = 0,786 và hệ số Sig. của kiểm định Barlett’s nhỏ hơn 0,05. Tại giá trị Eigenvalue lớn hơn 1 có 6 yếu tố được trích với tổng phương sai trích đạt 72,918%, nghĩa là 6 yếu tố độc lập giải thích được 72,918% sự biến thiên của dữ liệu nghiên cứu. Đối với yếu tố phụ thuộc khi thực hiện các phân tích cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số KMO, hệ số tải nhân tố đều nằm trong khoảng lớn hơn 0,5 và nhỏ hơn 1. Tại giá trị Eigenvalue = 1,524 chỉ có một yếu tố được trích với tổng phương sai trích đạt 73,576%. Như vậy, toàn bộ dữ liệu đưa vào phân tích đều đáp ứng tốt các điều kiện đưa ra của Hair và cộng sự (2010).
Ngoài ra, khi thực hiện phân tích tương quan Pearson cho thấy, có mối tương quan rất tốt giữa các yếu tố độc lập và yếu tố phụ thuộc với hệ số tương quan đều > 0,4 và hệ số Sig < 0,05 bên cạnh đó, giữa các yếu tố độc lập không xuất hiện nghi ngờ về hiện tượng đa cộng tuyến (Hair và cộng sự, 2010).
Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
|
Mô hình |
Hệ số hồi quy chưa chuẩn hoá |
Hệ số hồi quy chuẩn hoá |
t |
Sig. |
Thống kê đa cộng tuyến |
|||
|
Beta |
Độ lệch chuẩn |
Beta chuẩn hoá |
Dung sai điều chỉnh |
VIF |
||||
|
1 |
Hằng số |
1,408 |
0,016 |
|
5,439 |
0,015 |
|
|
|
TD |
0,275 |
0,020 |
0,281 |
6,187 |
0,000 |
0,736 |
1,587 |
|
|
KS |
0,246 |
0,013 |
0,265 |
4,355 |
0,008 |
0,609 |
1,712 |
|
|
CM |
0,308 |
0,026 |
0,329 |
5,268 |
0,002 |
0,711 |
1,635 |
|
|
HA |
0,213 |
0,025 |
0,237 |
4,713 |
0,000 |
0,758 |
1,798 |
|
|
TT |
0,167 |
0,019 |
0,189 |
5,242 |
0,003 |
0,724 |
1,607 |
|
|
TN |
0,184 |
0,021 |
0,202 |
6,176 |
0,001 |
0,762 |
1,653 |
|
|
Giá trị F = 143,591; Sig. = 0,000 R2 = 0,772; R2 hiệu chỉnh = 0,759; Durbin-Watson = 1,788 a. Biến phụ thuộc: GL |
||||||||
(Nguồn: Phân tích của tác giả)
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp Enter tại Bảng 2 cho thấy, các yếu tố độc lập được đưa vào cùng một lúc để kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh đạt 0,759 nghĩa là các yếu tố độc lập giải thích được 75,9% yếu tố phụ thuộc. Giá trị Durbin-Watson đạt 1,788 nên chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình. Kết quả phân tích ANOVA và kiểm định F cũng cho thấy trị số thống kê có giá trị Sig đạt 0,000 do đó mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp với tệp dữ liệu và có thể sử dụng được. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu cho kết quả các yếu tố đều có mức ý nghĩa Sig. bé hơn 0,05. Hệ số phóng đại phương sai VIF của các yếu tố độc đều nhỏ hơn 2 do đó không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập. Bên cạnh đó, kiểm tra giả định về phân phối chuẩn của phần dư cho thấy, độ lệch chuẩn gần = 1 và Mean xấp xỉ = 0 nên giả thuyết phân phối chuẩn của phần dư khi xây dựng mô hình hồi quy không bị vi phạm. Biểu đồ phân tán thể hiện sự phân tán ngẫu nhiên của các giá trị phần dư trong một vùng đi qua đường tung độ 0 và các điểm quan sát không phân tán quá xa đường thẳng kỳ vọng do đó giả định liên hệ tuyến tính không vi phạm.
Do đó, các giả thuyết nghiên cứu đưa ra đều được chấp nhận các yếu tố ảnh hưởng theo mức độ giảm dần là: Chuẩn mực chủ quan; Thái độ của du khách; Cảm nhận kiểm soát hành vi; Hình ảnh điểm đến; Trải nghiệm điểm đến xanh; Truyền thông môi trường, phương trình hồi quy theo hệ số Beta chuẩn hóa như sau:
GL = 0,329*CM + 0,281*TD + 0,265*KS + 0,237*HA + 0,202*TN + 0,189*TT
5. Giải pháp đề xuất
Để nâng cao ý định du lịch xanh của du khách, các điểm đến và doanh nghiệp du lịch cần ưu tiên thúc đẩy lan tỏa xã hội tích cực, khuyến khích du khách chia sẻ trải nghiệm du lịch xanh, phát huy vai trò của cộng đồng địa phương, hướng dẫn viên và những người có ảnh hưởng nhằm hình thành xu hướng lựa chọn du lịch xanh trong xã hội. Đồng thời, cần định hướng và củng cố thái độ tích cực của du khách bằng cách truyền tải rõ ràng các lợi ích môi trường, sức khỏe và giá trị trải nghiệm mà du lịch xanh mang lại.
Bên cạnh đó, các điểm đến nên nâng cao cảm nhận kiểm soát hành vi của du khách thông qua việc cung cấp thông tin minh bạch, đơn giản hóa quy trình tiếp cận sản phẩm du lịch xanh, đa dạng hóa các gói dịch vụ phù hợp với nhiều nhóm đối tượng. Xây dựng và duy trì hình ảnh điểm đến xanh gắn với các cam kết cụ thể về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời nên đầu tư nâng cao chất lượng trải nghiệm điểm đến xanh thông qua các hoạt động du lịch cộng đồng, trải nghiệm thiên nhiên và giáo dục môi trường nhằm tạo giá trị cảm xúc bền vững cho du khách. Cuối cùng, các bên liên quan nên đẩy mạnh truyền thông môi trường theo hướng chân thực, nhất quán và dễ tiếp cận, tập trung vào hành động và kết quả thực tiễn để củng cố niềm tin và thúc đẩy hành vi lựa chọn du lịch xanh trong dài hạn.
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Văn Đính. (2021). Bảo tồn và phát triển du lịch xanh Việt Nam. Tạp chí Môi trường. https://tapchimoitruong.vn/dien-dan--trao-doi-21/phat-trien-du-lich-xanh-viet-nam
Ajzen, I. (1985). From intentions to actions: A theory of planned behavior. In J. Kuhl & J. Beckmann (Eds.), Action control: From cognition to behavior (pp. 11-39). Springer.
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
Furqan, A., Som, A. P. M., & Hussin, R. (2010). Promoting green tourism for future sustainability. Theoretical and Empirical Researches in Urban Management, 5(8), 64-74.
Goodwin, H. (1996). In pursuit of ecotourism. Biodiversity and Conservation, 5(3), 277-291.
Hasan, A. (2015). Green tourism marketing model. Media Wisata, 13(2), 147-156.
Honey, M. (2008). Ecotourism and sustainable development: Who owns paradise? Island Press.
Luong, T. B., & Nguyen, D. T. A. (2025). Examining social media influence’s role in the TPB model for young Vietnamese visiting green hotels. Journal of Ecotourism, 24(1), 20-42.
Mason, P. (2020). Tourism impacts, planning and management (3rd ed.). Routledge.
Sanjaya, D., Arief, M., Setiadi, N. J., & Heriyati, P. (2023). Research on green tourism intention: A bibliometric analysis. Journal of System and Management Sciences, 13(1), 159-185.
Stronza, A., & Gordillo, J. (2008). Community views of ecotourism. Annals of Tourism Research, 35(2), 448-468.
Wearing, S., & Neil, J. (2009). Ecotourism: Impacts, potentials and possibilities (2nd ed.). Elsevier.
Zhang, X., Chan, T. Y., & Bottom, W. P. (2022). Relational aspects of vicarious retribution: Evidence from professional baseball. Journal of Applied Psychology, 107(6), 917-931.
Solutions to Enhance Domestic Tourists’ Green Tourism Intention in Adapting to Climate Change at Northern Destinations
Abstract:
This study aims to analyze the factors influencing domestic tourists’ green tourism intention toward destinations in Northern Vietnam, thereby proposing appropriate solutions to promote environmentally friendly tourism behavior and enhance adaptation to climate change. The research data were collected through a survey of domestic tourists and analyzed using quantitative methods with SPSS 26. The results indicate that six factors significantly influence green tourism intention, including subjective norms, tourists’ attitudes, perceived behavioral control, destination image, green destination experience, and environmental communication. Based on these empirical findings, the study proposes several solutions to support Northern destinations in developing tourism in a green and sustainable direction.
Keywords: Green tourism; tourism intention; domestic tourists; Northern destinations.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 2 năm 2026]
