PV: Thưa Thứ trưởng, với vai trò là Tổng thư ký UBQG về HTKTQT, ông có thể đánh giá một cách tổng quát những cái “được và mất” của nền kinh tế Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO?

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú: Đánh giá tác động của việc nước ta gia nhập WTO đối với nền kinh tế trong 2 năm qua là một việc rất khó. Trước hết, 2 năm là một khoảng thời gian chưa đủ dài để bộc lộ hết những tác động tích cực cũng như tiêu cực vào việc gia nhập WTO. Thực tế là việc cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế của nước ta đã bắt đầu diễn ra trong nhiều năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO và vẫn tiếp tục sau khi chúng ta đã là thành viên của WTO. Ngoài ra, trong 2 năm vừa qua, nền kinh tế nước ta còn chịu tác động của những yếu tố bên ngoài như, giá tiêu dùng tăng cao và sự bất ổn tài chính trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, đa số các ý kiến đều nhận định, mở cửa nền kinh tế theo cam kết hội nhập và gia nhập WTO chính là động lực dẫn đến việc tăng hiệu quả của nền kinh tế, từ đó, góp phần tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng có thể là một trong các nguyên nhân gián tiếp làm cho các bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô khó kiểm soát hơn. Lý do chủ yếu là, cùng với việc gia nhập WTO, sự phụ thuộc của chúng ta vào nền kinh tế thế giới cũng tăng lên, thể hiện rõ nhất thông qua tỷ lệ giữa xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài so với GDP ngày càng tăng (137% năm 2006, 140% năm 2007, 160% năm 2007). Trong bối cảnh đó, chúng ta phải chủ động hơn trong điều hành, phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô để tránh hoặc chí ít là giảm bớt các biến động trên thị trường thế giới đến nền kinh tế còn ở quy mô nhỏ của nước ta. Đây là những vấn đề các nước đi trước đều đã trải qua và ta là thành viên mới còn thiếu kinh nghiệm nên rất cần học tập kinh nghiệm của các nước đi trước.

PV: Thưa Thứ trưởng, đã từng có một số ý kiến cho rằng, việc gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá của các nước khác tràn vào Việt Nam, và ngành Công nghiệp của Việt Nam sẽ đứng trước nhiều bất lợi. Vậy quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú: Đúng là đã từng có một số quan ngại rằng, việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam sẽ có tác động tiêu cực đến phát triển các ngành công nghiệp của Việt Nam. Tuy nhiên, hội nhập KTQT nói chung, trở thành thành viên WTO nói riêng, có cả thách thức và cơ hội. Thách thức đối với những tích cực mà ta yếu kém, đối với những ngành công nghiệp mà ta kém sức cạnh tranh và cơ hội đối với những lĩnh vực mà ta mạnh, những ngành công nghiệp mà ta có sức cạnh tranh cao. Thực tế 2 năm qua cho thấy, nhìn chung ta đã gặp phải một số thách thức, nhưng các ngành công nghiệp của ta đã vượt qua được. Sau hai năm gia nhập WTO, sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt năng suất tương đối cao, đặc biệt ngành sản xuất có đầu vào là nông sản và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như thủy sản, may mặc, giày dép, đồ nội thất, thủ công. Bên cạnh đó, việc cắt giảm thuế nhập khẩu và xóa bỏ độc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu có thể sẽ gây sức ép cạnh tranh hơn đối với một số ngành sản xuất. Những ngành công nghiệp dự kiến gặp cạnh tranh cao hơn trong thời gian tới là: thuốc lá, giấy và sản phẩm giấy, thiết bị y tế, thiết bị quang học và thiết bị chính xác, đồng hồ và ô tô.... 

PV: Một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là môi trường kinh doanh. Vậy theo Thứ trưởng, việc gia nhập WTO đã có tác động như thế nào đối với môi trường kinh doanh của Việt Nam? 

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã dần dần được cải thiện đáng kể: hệ thống chính sách trở nên  đầy đủ hơn, minh bạch hơn, chế độ quản lý giá đối với một số mặt hàng được bãi bỏ; các biện pháp trợ cấp được điều chỉnh hợp lý hơn và được thực hiện phù hợp với cơ chế thị trường... Cuộc khảo sát các doanh nghiệp nhỏ khu vực châu Á - Thái bình dương 2008 do Ngân hàng HSBC tiến hành cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đều dự đoán Việt Nam sẽ đạt được những tăng trưởng kinh doanh trong năm 2008. Đây là tiền đề tốt để ta thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong thời gian lâu dài.

PV: Theo Thứ trưởng, để tận dụng một cách tốt nhất những lợi thế của WTO, trong thời gian tới, Việt Nam cần phải thực hiện những giải pháp cơ bản nào?

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú: Về cơ bản, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO đã đem lại những kết quả nhất định như, tăng GDP, tăng trưởng xuất khẩu, tăng đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành dịch vụ. Tuy nhiên, trong thời gian 2 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đã xuất hiện những biến động lớn trong nền kinh tế buộc chúng ta phải xem xét một cách nghiêm túc và cần tập trung giải quyết một số vấn đề lớn như sau:

- Trước mắt, cần ổn định kinh tế vĩ mô: Cần nhận thức đầy đủ tính chất phức tạp, nghiêm trọng của những rủi ro tài chính, bất ổn kinh tế, xã hội đang phát sinh để có phương thức xử lý thích hợp; lạm phát, thâm hụt thương mại... Đặc biệt, cần quan tâm đến việc củng cố khả năng giám sát và quản lý rủi ro đối với hệ thống tài chính - ngân hàng cũng như khả năng giám sát trung chuyển vốn và sớm xây dựng hệ thống cảnh báo. Tuy nhiên, các biện pháp áp dụng cần phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, trong đó có các quy định của WTO.

- Tiếp tục thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cam kết đã đưa ra trong WTO, tận dụng tốt những quyền lợi mà thành viên WTO được hưởng, xử lý hài hòa, thống nhất mối quan hệ giữa cam kết gia nhập WTO, nhất là các cam kết về dịch vụ, với khuôn khổ pháp lý hiện hành, tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư.

- Nghiên cứu và xây dựng thể chế thực thi và giám sát có hiệu lực và hiệu quả. Các chương trình hành động lâu nay không được triển khai và tổng kết một cách nghiêm túc, hiệu quả nhìn chung thấp, phí tổn cao. Nguyên nhân của tình trạng trên là do các chương trình hành động chưa thiết thực và thiếu thể chế thực thi, giám sát hữu hiệu. Ngoài ra, cũng rất cần thiết lập thể chế rà soát chính sách.

- Về sản xuất và xuất khẩu, cần phát triển các ngành sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tập trung vào các mặt hàng chế biến, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, tăng cường công tác xúc tiến thương mại.

- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, thể chế xã hội như hệ thống thuế thu nhập cá nhân, chính sách bảo hiểm, an sinh xã hội nhằm tránh gia tăng khoảng cách giàu nghèo khi hội nhập. Nghiên cứu áp dụng các biện pháp trợ cấp nông nghiệp mà WTO không cấm áp dụng nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống người nông dân.

- Tiếp tục đàm phán với các thành viên WTO về việc công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường (đến nay đã có 14 thành viên công nhận) và áp dụng đúng quy định của WTO về chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam, phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và doanh nghiệp/hiệp hội nhằm cảnh báo và tránh tối đa các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.

- Đầu tư ngân sách vào việc đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đồng thời phân bổ hiệu quả nguồn nhân lực: từ các nhà hoạch định chính sách, đội ngũ công chức, cho đến doanh nhân và người lao động nói chung; tăng cường nâng cao nhận thức cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nhân về quyền lợi và nghĩa vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO.

- Là thành viên WTO, Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong việc nghiên cứu, đầu tư nhân lực vào việc thực hiện một cách có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình trong tổ chức này, cụ thể trong thời gian trước mắt, cần tham gia tích cực vào Vòng đàm phán Doha để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trong tương lai trong các lĩnh vực nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ, trợ cấp...

PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng.