TÓM TẮT:

Bài viết nhằm khảo sát tác dụng dược lý của dẫn xuất tranilast mã số TRA-017 trên mô hình suy giảm trí nhớ ở chuột thí nghiệm. Chuột thí nghiệm được tiến hành thử nghiệm bằng các mô hình đánh giá sự suy giảm trí nhớ gây ra bởi lipopolysaccharide (LPS) bao gồm mô hình mê cung chữ Y (Y-maze test), mô hình khám phá vật thể mới (Novel object regconition test - NORT). Kết quả cho thấy, sự hồi phục đáng kể về tỷ lệ luân phiên tự phát trong mô hình mê cung chữ Y và phần trăm thời gian khám phá vật thể mới trong mô hình NORT của nhóm điều trị so với nhóm bệnh lý. Kết quả này chứng tỏ TRA-017 có tiềm năng điều trị bệnh lý sa sút tuệ tiền lâm sàng và có thể tiếp tục tiến hành các thử nghiệm chuyên sâu để nghiên cứu cơ chế tác động của hợp chất này.

Từ khóa: sa sút trí tuệ, suy giảm trí nhớ, dẫn xuất tranilast, lipopolysaccharide.

1. Đặt vấn đề

Các bệnh lý sa sút trí tuệ như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson hoặc bệnh đa xơ cứng được đặc trưng bởi sự thoái hóa của các tế bào neuron thần kinh hiện diện trong não. Tùy vào loại bệnh cụ thể, vị trí các neuron bị thoái hóa có thể khác nhau. Trong bệnh lý Alzheimer, sự thoái hóa neuron thần kinh thường xuất hiện bắt đầu từ vùng hồi hải mã trong khi ở bệnh lý Parkinson thì neuron thần kinh bị thoái hóa thường xuất hiện ở vùng liềm đen. Một khi đã bị thoái hóa, các neuron thần kinh thường không có khả năng tự phục hồi như các tế bào ở các cơ quan khác trong cơ thể (Trinh et. al., 2024).

Viêm thần kinh là một trong các cơ chế gây thoái hóa neuron thần kinh phổ biến trong các mô hình bệnh lý sa sút trí tuệ. Viêm thần kinh làm tăng cường nồng độ của các yếu tố và chất trung gian hóa học gây viêm bên trong mô não như interleukin-1 beta (IL-1β), interleukin 6 (IL-6), yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-α), nuclear factor kappa-B (NF-kB) và stress oxy hóa trong mô não. Các tác nhân này kích hoạt sự hoạt động của các tế bào thần kinh đệm như microglia hay astrocyte gây ra tình trạng viêm thần kinh, từ đó gây thoái hóa các tế bào neuron tại vùng bị tổn thương. Để phát triển thuốc điều trị bệnh lý sa sút trí tuệ, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã ứng dụng mô hình gây viêm thần kinh bằng LPS để khảo sát tác dụng dược lý của các hợp chất hóa dược lên biểu hiện suy giảm trí nhớ ở chuột thí nghiệm (Zhang et. al., 2024).

Tranilast là một hợp chất được sử dụng để kháng dị ứng, dùng để điều trị các bệnh lý viêm mạn tính như bệnh hen suyễn hoặc điều trị sẹo lồi. Tranilast hoạt động thông qua nhiều cơ chế như ức chế tế bào mast tạo các chất trung gian gây viêm, ức chế tổng hợp collagen… Hiện nay, các dẫn xuất từ tranilast đang tiếp tục được nghiên cứu tiền lâm sàng để phát triển các loại thuốc mới ứng dụng để điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau. Đề tài này thực hiện các nghiên cứu ban đầu về tác dụng của TRA-017 lên mô hình bệnh lý sa sút trí tuệ ở chuột (Dieu et. al., 2026; Phan et. al., 2024).

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Hóa chất và động vật thí nghiệm

2.1.1. Hóa chất

Dẫn xuất tranilast TRA-017 được tổng hợp theo quy trình đã công bố trong nghiên cứu trước đây (Dieu et. al., 2026; Nguyen et. al., 2025) bởi Nguyễn Đức Tri Thức và cộng sự tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

Hình 1: Công thức cấu tạo của TRA-017

dẫn xuất tranilast

Lipopolysaccharide (LPS), GC205009-10mg, hãng sản xuất Servicebio.

Diclofenac, 75mg/3ml, hãng sản xuất Novartis.

Tất cả các hóa chất được pha tới nồng độ phù hợp để tiêm trên chuột bằng dung dịch nước muối sinh lý.

2.1.2. Động vật thí nghiệm

Chuột nhắt trắng, thuộc chủng Swiss albino được cung cấp bởi Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh. Chuột sử dụng thuộc giống đực, không có biểu hiện bất thường, có khối lượng trung bình 24±2g. Chuột được nuôi trong phòng thí nghiệm động vật của Trường Đại học Tôn Đức Thắng, chu kỳ sáng/tối 12 giờ, nhiệt độ 23±1oC, độ ẩm 55±5%. Chuột được cho ăn thức ăn tiêu chuẩn và uống nước tự do. Chuột được cho thích nghi với môi trường 7 ngày trước khi bắt đầu thí nghiệm.

2.2. Phương pháp gây mô hình sa sút trí tuệ và điều trị bằng TRA-017 trên chuột thí nghiệm

Chuột được tiêm dưới da (s.c.) LPS liều 2,5 mg/kg/ngày hoặc nước muối sinh lý với cùng thể tích trong năm ngày liên tiếp. Sau 24h, chuột thí nghiệm được tiến hành thử nghiệm khảo sát mức độ suy giảm trí nhớ bằng mô hình mê cung chữ Y và mô hình khám phá vật thể mới. Để khảo sát tác dụng dược lý của TRA-017, chuột được tiêm dưới da (s.c.) TRA-017 ở 3 liều 10, 20 và 30 mg/kg/ngày trước mỗi lần tiêm LPS 60 phút. Chứng dương diclofenac với liều 2.5 mg/kg/ngày được tiêm dưới da (s.c.) trước mỗi lần tiêm LPS 60 phút. Liều các thuốc sử dụng được xác định dựa tên các nghiên cứu đã được công bố trước đó (De La Garza et. al., 2004; Dieu et. al., 2026; Wu et. al., 2021).

2.3. Phương pháp khảo sát tác dụng của TRA-017 trên mô hình mê cung chữ Y và mô hình khám phá vật thể mới

Mỗi mô hình chuột được chia thành các lô, mỗi lô 6 con chuột.

  • Lô đối chứng: chỉ tiêm nước muối sinh lý.
  • Lô bệnh lý: chỉ tiêm LPS.
  • Lô điều trị 1, 2, 3 (3 lô tương ứng với 3 liều TRA-017): tiêm TRA-017 và LPS.
  • Lô chứng dương: tiêm diclofenac và LPS.

Hình 2: Mô hình mê cung chữ Y với 3 nhánh A, B và C

dẫn xuất tranilast

Mô hình mê cung chữ Y: Mô hình được làm bằng nhựa plexiglass có 3 nhánh A, B và C tạo thành hình chữ Y (Hình 2). Quy trình thử nghiệm tiến hành theo mô hình của Thử nghiệm được đánh giá bằng cách so sánh tỷ lệ % chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C giữa các lô chuột thí nghiệm (Mạnh Hùng, 2025). Tỷ lệ % chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C được tính theo công thức:

dẫn xuất tranilast

Mô hình khám phá vật thể mới được làm bằng nhựa plexiglass với kích thước dài x rộng x cao = 40 x 40 x 30 cm (Hur et. al., 2020).

Hình 3: Mô hình dạng hộp dùng đánh giá hành vi nhận thức vật thể mới của chuột thí nghiệm trong mô hình gây sa sút trí tuệ ở chuột

dẫn xuất tranilast

Thử nghiệm được đánh giá bằng phần trăm thời gian chuột khám phá vật thể mới. Phần trăm thời gian chuột khám phá vật thể mới được tính theo công thức:

dẫn xuất tranilast

2.4. Phương pháp xác định hoạt tính của enzyme superoxide dismutase (SOD) trong hồi hải mã của não chuột

Hồi hải mã từ não chuột thí nghiệm được thu nhận sau khi kết thúc thí nghiệm. Mẫu vật được trữ ở -80oC cho tới khi thực hiện thử nghiệm. Hồi hải mã của chuột được nghiền đồng hóa trong dung dịch Phosphate Buffered Saline (PBS). Sau đó, đem ly tâm ở 13.000 vòng/phút trong 10 phút, thu dịch nổi. Hoạt tính của enzyme SOD được xác định bằng bộ kit Elabscience® CuZn/Mn Superoxide Dismutase (CuZnSOD/Mn-SOD) Activity Assay Kit (Mã số catalog: E-BC-K022-M, Trung Quốc) (Trinh et. al. ,2026). Nguyên lý của thử nghiệm này dựa trên việc gốc anion superoxide, được tạo ra bởi hệ thống xanthine oxidase, sẽ phản ứng với hydroxylamine và cuối cùng chuyển hóa thành một chất màu đỏ tím sau phản ứng tạo màu. Hàm lượng chất màu đỏ tím này được đo mật độ quang (OD) bằng máy ELISA ở bước sóng 550 nm. Enzyme SOD trong mẫu có tác dụng ức chế đặc hiệu đối với anion superoxide, làm giảm hàm lượng chất màu đỏ tím. Hàm lượng protein được xác định bằng phương pháp Bicinchoninic Acid (BCA) theo quy trình bộ kit Thermo Scientific™ Pierce™ BCA Protein Assay. Hoạt tính của SOD được tính toán theo công thức:

dẫn xuất tranilast

Trong đó: V1 (mL) = thể tích phản ứng, V2 (mL) = thể tích mẫu, f = hệ số pha loãng, i1 = % ức chế T-SOD, m = hàm lượng protein trong mẫu (mg/mL).

dẫn xuất tranilast

Với: A1 là OD mẫu control SOD tổng, A2 là OD mẫu SOD tổng mẫu thử nghiệm, A3 là OD mẫu Mẫu trắng SOD tổng

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả số liệu được thể hiện dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lô thử nghiệm được xác định bằng phần mềm GraphPad Prism 8.0.2.

2.6. Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu trên động vật được cấp phép thực hiện bởi Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu động vật của Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU-AEC). Mã số: 08/HÐTVÐÐ.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả thử nghiệm mô hình mê cung chữ Y

Hình 4 trình bày kết quả thử nghiệm tác dụng dược lý của dẫn xuất TRA-017 trên mô hình mê cung chữ Y ở 03 liều 10, 20 và 30 mg/kg. Trong thử nghiệm mê cung chữ Y, chuột không bị suy giảm trí nhớ sẽ cho kết quả tỷ lệ chạy đúng thứ tự A, B, C cao hơn chuột bị suy giảm trí nhớ.

Ở lô bệnh lý, tỷ lệ chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p < 0,001 so với lô đối chứng). Vì vậy, có thể kết luận LPS đã thành công gây ra quá trình viêm thần kinh dẫn tới làm suy giảm trí nhớ của chuột trong thử nghiệm mê cung chữ Y. Kết quả của đề tài cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trên thế giới sử dụng mô hình này (Arai et. al., 2021; Bahaidrah et. al., 2022).

Ở lô chứng dương, diclofenac làm tăng lên đáng kể tỷ lệ chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C so với chuột ở lô bệnh lý (p < 0.01 so với lô bệnh lý). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây (Ramadhani et. al., 2024).

Ở lô điều trị 1, tỷ lệ chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C có tăng lên so với chuột ở lô bệnh lý. Tuy nhiên, sự tăng này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (p > 0.05 so với lô bệnh lý). Vì vậy, có thể kết luận TRA-017 ở liều 10 mg/kg chưa cho kết quả điều trị khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Ở lô điều trị 2 và 3, tỷ lệ chuột chạy đúng theo thứ tự A, B, C tăng lên đáng kể có ý nghĩa thống kê so với chuột ở lô bệnh lý (p < 0.01 so với lô bệnh lý). Điều này chứng tỏ TRA-017 ở liều 20 và 30 mg/kg có tác dụng làm giảm sự suy giảm trí nhớ gây ra bởi LPS trong mô hình mê cung chữ Y. Tác dụng của TRA-017 ở liều 20 và 30 mg/kg không có khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ tăng liều TRA-017 quá 20 mg/kg không làm tăng tác dụng bảo vệ đáng kể khỏi độc tính gây ra do LPS trên mô hình mê cung chữ Y.

Hình 4: Kết quả khảo sát tác dụng của TRA-017 lên sự suy giảm trí nhớ của chuột trên mô hình thử nghiệm mê cung chữ Y

dẫn xuất tranilast

Ghi chú: Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn; **: p < 0,001 so với lô đối chứng; #: p < 0,01 so với lô bệnh lý

3.2. Kết quả thử nghiệm mô hình khám phá vật thể mới

Hình 5 trình bày kết quả thử nghiệm tác dụng dược lý của dẫn xuất TRA-017 trên mô hình khám phá vật thể mới ở 3 liều 10, 20 và 30 mg/kg. Trong thử nghiệm mô hình khám phá vật thể mới, chuột không bị suy giảm trí nhớ sẽ có xu hướng dành nhiều thời gian hơn để khám phá vật thể mới so với vật thể cũ. Vì vậy, kết quả phần trăm thời gian khám phá vật thể mới ở chuột không bị suy giảm trí nhớ sẽ cao hơn so với chuột bị suy giảm trí nhớ (Hur et. al., 2020).

Ở lô bệnh lý, phần trăm thời gian khám phá vật thể mới giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p < 0,001 so với lô đối chứng). Vì vậy, có thể kết luận LPS đã thành công gây ra quá trình viêm thần kinh dẫn tới làm suy giảm trí nhớ của chuột trong thử nghiệm khám phá vật thể mới. Kết quả của đề tài cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trên thế giới sử dụng mô hình này (Alzahrani et. al., 2022).

Ở lô chứng dương, diclofenac làm tăng lên đáng kể tỷ lệ phần trăm thời gian khám phá vật thể mới so với chuột ở lô bệnh lý (p < 0,01 so với lô bệnh lý). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây về tác dụng bảo vệ của diclofenac đối với sự suy giảm trí nhớ ở chuột thí nghiệm gây ra do LPS (De La Garza et. al., 2004; Ramadhani et. al., 2024).

Ở lô điều trị 1, phần trăm thời gian khám phá vật thể mới có tăng lên so với chuột ở lô bệnh lý. Tuy nhiên, sự tăng này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (p > 0.05 so với lô bệnh lý). Vì vậy, có thể kết luận TRA-017 ở liều 10 mg/kg chưa cho kết quả điều trị khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Ở lô điều trị 2 và 3, phần trăm thời gian khám phá vật thể mới tăng lên đáng kể có ý nghĩa thống kê so với chuột ở lô bệnh lý (p < 0,01 so với lô bệnh lý). Điều này chứng tỏ TRA-017 ở liều 20 và 30 mg/kg có tác dụng làm giảm sự suy giảm trí nhớ gây ra bởi LPS trong mô hình khám phá vật thể mới. Tác dụng của TRA-017 ở liều 20 và 30 mg/kg không có sự khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ tăng liều TRA-017 quá 20 mg/kg không làm tăng tác dụng bảo vệ đáng kể khỏi độc tính gây ra do LPS trên mô hình khám phá vật thể mới.

Hình 5: Kết quả khảo sát tác dụng của TRA-017 lên sự suy giảm trí nhớ của chuột trên mô hình khám phá vật thể mới
dẫn xuất tranilast Ghi chú: Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn; **: p < 0,001 so với lô đối chứng; #: p < 0,01 so với lô bệnh lý

3.3. Kết quả thử nghiệm xác định hoạt tính của enzyme superoxide dismutase (SOD) trong hồi hải mã của não chuột

Hình 6: Kết quả thử nghiệm xác định hoạt tính của enzyme superoxide dismutase (SOD) trong hồi hải mã của não chuột

dẫn xuất tranilast

Ghi chú: Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn; *: p < 0,001 so với lô đối chứng; #: p < 0,05 so với lô bệnh lý

Hình 6 trình bày kết quả thử nghiệm tác dụng dược lý của dẫn xuất TRA-017 lên hoạt tính của enzyme SOD trong hồi hải mã của não chuột ở 03 liều 10, 20 và 30 mg/kg.

Ở lô bệnh lý, hoạt tính của enzyme SOD ở hồi hải mã của chuột giảm đáng kể so với lô đối chứng (p<0,001 so với lô đối chứng). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của LPS lên hoạt tính của enzyme SOD (Ullah et. al., 2025; Zhao et. al., 2017). SOD là một enzyme đóng vai trò quan trọng giúp bảo vệ tế bào trong cơ thể khỏi các tác động có hại của stress oxi hóa. SOD chuyển hóa các gốc tự do hoạt động thành H2O2. Sau đó, H2O2 sẽ được chuyển hóa bởi enzyme catalase thành H2O2 và O2 hoặc bởi enzyme glutathione peroxidase thành H2O. Quá trình này giúp cơ thể có thể giải độc gây ra bởi các gốc tự do sinh ra trong quá trình sống. Việc tích lũy các gốc tự do có thể dẫn tới sự xuất hiện của hiện tượng viêm thần kinh, là nguyên nhân quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của các bệnh lý sa sút trí tuệ (Sharma et. al., 2021).

Ở lô điều trị 1, hoạt tính của enzyme SOD ở hồi hải mã của chuột không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô bệnh lý. Kết quả này cho thấy, TRA-017 ở liều 10 mg/kg không có tác dụng hồi phục hoạt tính enzyme SOD trong não chuột thí nghiệm.

Ở lô điều trị 2 và 3, hoạt tính của enzyme SOD ở hồi hải mã của chuột được hồi phục theo chiều hướng tăng đáng kể so với lô bệnh lý (p < 0,05 so với lô bệnh lý). Hoạt tính enzyme SOD của chuột ở lô điều trị 2 và lô điều trị 3 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cho thấy, TRA-017 có khả năng đảo ngược sự suy giảm hoạt tính của enzyme SOD gây ra bởi LPS trong hồi hải mã của chuột. Sự hồi phục hoạt tính của enzyme SOD có xu hướng tương tự với chiều hướng hồi phục trí nhớ của chuột thí nghiệm trong thử nghiệm mê cung chữ Y và thử nghiệm khám phá vật thể mới. Vì vậy, có thể kết luận, cơ chế tác động của TRA-017 trong việc làm giảm sự suy giảm trí nhớ gây ra do LPS có liên quan tới quá trình hồi phục của hệ enzyme kháng oxy hóa trong cơ thể mà cụ thể ở đây là sự hồi phục hoạt tính của enzyme SOD.

4. Kết luận

Dẫn xuất tranilast TRA-017 được tổng hợp thể hiện tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột nhắt trắng Swiss albino gây suy giảm trí nhớ bằng LPS và tác dụng này tăng dần theo liều sử dụng.

Cơ chế tác dụng của TRA-017 trong việc hỗ trợ hồi phục trí nhớ có liên quan tới sự phục hồi của hệ thống enzyme kháng oxy hóa, cụ thể trong bài là sự phục hồi hoạt tính enzyme SOD.

TRA-017 có thể được sử dụng để tiếp tục nghiên cứu cơ chế tác dụng của thuốc trên sự sa sút trí tuệ gây ra bởi LPS. Vì tác dụng của TRA-017 với liều 20 và 30 mg/kg không có sự khác biệt, nên sử dụng liều 20 mg/kg cho các thử nghiệm xác định cơ chế hoạt động của TRA-017 trong các nghiên cứu kế tiếp để hạn chế các tác dụng phụ có thể gây ra bởi TRA-017 trên chuột thí nghiệm.

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường đại học Tôn Đức Thắng trong Đề tài mã số FOSTECT.2025.36.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Trần Mạnh Hùng (2025). Phương pháp nghiên cứu phát triển thuốc tiền lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.

Alzahrani, N. A., Bahaidrah, K. A., Mansouri, R. A., Alsufiani, H. M., Alghamdi, B. S. (2022). Investigation of the optimal dose for experimental lipopolysaccharide-induced recognition memory impairment: behavioral and histological studies. J. Integr. Neurosci., 21, 49. https://doi.org/10.31083/j.jin2102049

Arai, K., Matsuki, N., Ikegaya, Y. & Nishiyama, N. (2001). Deterioration of Spatial Learning Performances in Lipopolysaccharide-Treated Mice. Jpn. J. Pharmacol., 87, 195-201. https://doi.org/10.1254/jjp.87.195

Bahaidrah, K. A., Alzahrani, N. A., Aldhahri, R. S., Mansouri, R. A., Alghamdi, B. S. (2022). Effects of Different Lipopolysaccharide Doses on Short- and Long-Term Spatial Memory and Hippocampus Morphology in an Experimental Alzheimer’s Disease Model. Clinical and Translational Neuroscience, 6. https://doi.org/10.3390/ctn6030020

De La Garza, R., Fabrizio, K. R., Radoi, G.-E., Vlad, T. & Asnis, G. M. (2004). The non-steroidal anti-inflammatory drug diclofenac sodium attenuates lipopolysaccharide-induced alterations to reward behavior and corticosterone release. Behav. Brain Res. 149, 77-85. https://doi.org/10.1016/s0166-4328(03)00211-0.

Dieu, T. Q., Thuc, N. D. T., Tho, M. K. T. & Nhan, D. V. T. (2026). TRA-017, A Derivative of Tranilast, Protects against Hepatic Inflammation Induced by Lipopolysaccharide Administration. Indian J. Anim. Res., 1, 8 https://doi.org/10.18805/IJAR.BF-2083.

Hur, K.-H. et al. (2020). 25C-NBF, a new psychoactive substance, has addictive and neurotoxic potential in rodents. Arch. Toxicol., 94, 2505-2516. https://doi.org/10.1007/s00204-020-02740-3

Nguyen, T.-T. D. et al. (2025). Synthesis and Anticancer Activity Evaluation of N-(3,4,5-Trimethoxycinnamoyl)anthranilic Acid Derivatives. Lett. Org. Chem., 22, 580-590.  https://doi.org/10.2174/0115701786355190241214054126.

Phan, P.-T. T., Pham, T.-A. N., Nguyen, N. P., Nguyen, V.-A. T., Nguyen, T. H. (2024). Synthesis, Bioactivity Evaluation, and Molecular Docking Study of Tranilast Analogs as Anticancer Agents. Letters in Organic Chemistry, 21, 271-278. https://doi.org/10.2174/0115701786268073230926160649.

Ramadhani, C. A. & Anggadiredja, K. (2024). Pre-treatment of Diclofenac Prevents Memory Impairment After Mitragyna speciosa (Korth.) Havil. Administration: Role of the Arachidonic Acid Cascade. 14, 130. https://doi.org/10.33263/BRIAC146.130

Sharma, G. et al. (2021). Glutathione peroxidase-1 and neuromodulation: Novel potentials of an old enzyme. Food Chem. Toxicol., 148, 111945. https://doi.org/10.1016/j.fct.2020.111945

Trinh, Q. D., Mai, H. N., Pham, D. T. (2024). Application of mesenchymal stem cells for neurodegenerative diseases therapy discovery. Regen. Ther., 26, 981-989. https://doi.org/10.1016/j.reth.2024.09.014

Trinh, Q. D. et al. (2026). Lecithin Provide Alleviation Effect on Impairments of Mitochondrial Adaptations Induced by Pharmacological H1/H2 Blockade. Indian J. Anim. Res., 1-9. https://doi.org/10.18805/IJAR.BF-2084

Ullah, S. et al. (2025). Ambroxol attenuates detrimental effect of LPS-induced glia-mediated neuroinflammation, oxidative stress, and cognitive dysfunction in mice brain. Front. Immunol., 16. https://doi.org/10.3389/fimmu.2025.1494114

Wu, K.-C., Lee, C.-Y., Chern, Y. & Lin, C.-J. (2021). Amelioration of lipopolysaccharide-induced memory impairment in equilibrative nucleoside transporter-2 knockout mice is accompanied by the changes in glutamatergic pathways. Brain. Behav. Immun. 96, 187-199. https://doi.org/10.1016/j.bbi.2021.05.027.

Zhang, X. et al. (2024). Application of lipopolysaccharide in establishing inflammatory models. Int. J. Biol. Macromol., 279, 135371. https://doi.org/10.1016/j.ijbiomac.2024.135371

Zhao, W.-X. et al. (2017). Acetaminophen attenuates lipopolysaccharide-induced cognitive impairment through antioxidant activity. J. Neuroinflammation, 14, 17. https://doi.org/10.1186/s12974-016-0781-6

Pharmacological evaluation of the tranilast derivative TRA-017

in a mouse model of dementia

• Pham Duc Toan1

• Nguyen Duc Tri Thuc2

• Mui Kieu Tieu Tho2

• Trinh Quynh Dieu3*

1Research Group in Pharmaceutical and Biomedical Sciences, Faculty of Pharmacy, Ton Duc Thang University

2Faculty of Pharmacy, Ton Duc Thang University

3Faculty of Applied Sciences, Ton Duc Thang University

ABSTRACT:

This study investigates the pharmacological effects of the Tranilast derivative TRA-017 in a mouse model of memory impairment. Cognitive deficits were induced using Lipopolysaccharide (LPS), and behavioral performance was assessed through the Y-maze test and the Novel Object Recognition Test (NORT). The results demonstrated a significant improvement in the spontaneous alternation rate in the Y-maze test and a higher proportion of time spent exploring novel objects in the NORT among mice treated with TRA-017 compared with the control group. These findings indicate that TRA-017 exerts a protective effect against LPS-induced cognitive impairment in mice, suggesting its potential as a therapeutic candidate for early-stage cognitive decline and warranting further investigation into its underlying mechanisms of action.

Keywords: dementia, memory impairment, tranilast derivatives, lipopolysaccharide.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 5 tháng 2 năm 2026]