Quê gốc của bố ở Hải Dương, mẹ ở Hải Phòng, anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình thợ mỏ ở Phường Hà Phong, thành phố Hạ Long. Bố là thợ lái máy khoan, đảng viên, sau này là cán bộ ngành khoan, mẹ là công nhân lao động trong mỏ. Tuổi thơ học trò của anh như bao đứa trẻ khác trong xóm thợ, ngoài những giờ lên lớp, đến trường tiếp thu bài giảng của thầy cô, về nhà anh chăm chỉ tự học ôn bài, lúc rảnh rỗi, ngày chủ nhật giúp đỡ gia đình, đá bóng cùng lứa bạn, rồi cả những việc nhặt than trôi, soi cá, đánh dặm dưới biển, chặt gỗ trên rừng, anh đều làm một cách cần mẫn. Chính vì vậy, ngay từ lúc còn bé, anh đã thấu hiểu nỗi vất vả, cuộc sống khó khăn của ngượi thợ mỏ, ngay chính trong gia đình mình. Từ những nhận biết đó, đã thôi thúc anh tăng thêm ý chí trong học tập, rèn luyện cho chính mình. Trong những năm học phổ thông, năm nào anh cũng đứng đầu lớp. Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 1975 tại trường Vũ Văn Hiếu với tấm bằng loại giỏi, với bao ngành nghề bạn bè cùng khóa mơ ước lựa chọn, anh đăng ký thi vào Đại học Mỏ- Địa chất, với một tâm niệm học nghề mỏ để nối nghiệp cha anh. Năm 1980, tốt nghiệp Đại học ngành Khai thác mỏ lộ thiên, chưa kịp trở về vùng than quê hương, do tình hình chiến sự ở biên giới, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh vào quân ngũ. Những năm tháng của đời lính cụ Hồ đã tôi luyện cho anh thêm nghị lực và chí làm trai. Hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tháng 10 năm 1983 anh rời quân ngũ trở về quê hương đất mỏ và được tiếp nhận vào làm việc tại mỏ than Hà Tu (Nay là Công ty than Hà Tu), nơi có Bố và Mẹ anh đang công tác. Từ tháng 1/1984, cuộc đời làm thợ mỏ của anh bắt dầu từ đây, mà hành trang là những kiến thức đã học ở trường và nghị lực của tuổi thanh xuân phơi phới niềm tin của anh Bộ đội cụ Hồ, trở về trận tuyến làm than.

Những tháng, năm đầu làm thợ mỏ, anh được phân công nhiều công việc như phụ máy xúc, lấy mẫu than, rồi cán bộ tổng hợp, thư ký Giám đốc. Mỗi công việc thực tế đã giúp anh tích luỹ, bổ sung vào vốn kiến thức trong sách nhà trường và kinh nghiệm thực tế sản xuất. Khi được giao làm Phó Quản đốc, trưởng ca điều khiển sản xuất, Quản đốc công trường, Trưởng phòng kỹ thuật, anh đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 10/1993, ở tuổi 36, anh được đề bạt chức vụ Phó giám đốc Công ty, phụ trách kỹ thuật. Với trọng trách mới, anh đã phát huy tính chủ động sáng ạo, đề xuất nhiều giải pháp kỹ thuật, đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, tạo cho mỏ phục hồi trở lại sản xuất bình thường sau nhiều năm khó khăn, phải thu hẹp sản xuất, máy móc phải đưa vào niêm cất.

Cuối năm 1998, khi Giám đốc đương nhiệm chuẩn bị đến tuổi nghỉ hưu, trong lãnh đạo Công ty cũng chuẩn bị lựa chọn, giới thiệu nhân sự Giám đốc kế nhiệm. Phó giám đốc kỹ thuật Nguyễn Văn Sinh là một trong những người được lựa chọn, nhưng sự tín nhiệm của anh lại chưa cao trong lãnh đạo, có người cho rằng anh còn quá trẻ, chưa đủ độ chín để giao phó trọng trách Giám đốc một doanh nghiệp lớn. Còn quan điểm của lãnh đạo Tổng công ty Than Việt Nam, cấp trên của Công ty Than Hà Tu, thì ủng hộ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn và năng động. Hai quan điểm, hai cách nghĩ khác nhau, thậm chí có cả những tranh luận gay gắt để bảo vệ quan điểm, cuối cùng đã tìm đến một điểm chung. Đầu năm 1999 Công ty đã tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm, hay đúng hơn là bỏ phiếu bầu Giám đốc, trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của Công ty. Kết quả bầu chọn, ngay sau cuộc bỏ phiếu, anh đã chính thức được Tổng giám đốc Than Việt Nam giao trọng trách Giám đốc Công ty Than Hà Tu. Như vậy là lần đầu tiền, Công ty Than Hà Tu có một Giám đốc do chính thợ mỏ bầu chọn, trẻ nhất, lại là con em đích thực của thợ mỏ Hà Tu.

Vừa nhận xong bàn giao nhiệm vụ, lại đúng vào lúc ngành Than có những biến động về thị trường tiêu thụ than, sản xuất giảm, kế hoạch điều chỉnh, việc làm, thu nhập của CNVC, đời sống thợ mỏ và gia đình đều giảm là những thử thách đầu tiên khi anh mới nhận được trọng trách. Từ trong cái khó, ló cái khôn, bằng tính năng động, sáng tạo, tìm tòi và học hỏi, anh đã xuôi ngược khắp nơi tìm kiếm khách hàng nội địa, bán than tiểu ngạch sang Trung Quốc, nên năm đó, sản lượng của Công ty không giảm, 2100 người lao động vẫn có đủ việc làm, ổn định thu nhập. Trong các chuyến đi công tác, anh đã kết hợp khảo sát, tiếp thu công nghệ, trở về nghiên cứu, đề xuất để Hà Tu có thêm sản phẩm ngoài than. Anh đã đề xuất sáng kiến nghiền đá xít thải ra trong quá trình khai thác, bán cho các Công ty Xi măng làm phụ gia. Sáng kiến được áp dụng đem lại lợi ích kinh tế, giảm mặt bằng đổ thải, có thêm việc làm cho hơn 300 lao động, là điều kiện để tiếp nhận con em thợ mỏ, gia đình chính sách, gia đình khó khăn trên địa bàn.

Trong cơ chế thị trường, sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào định hướng đúng của lãnh đạo. Làm giám đốc trẻ, trưởng thành từ thực tế, anh đã có những quyết sách táo bạo trong sử dụng, đề bạt cán bộ trẻ có trình độ, được đào tạo chính quy trong khi coi trọng những cán bộ cao tuổi có kinh nghiệm. Được tin tưởng giao nhiệm vụ, các kỹ sư trẻ đã phát huy kiến thức, năng động trong thực hiện nhiệm vụ, công tác được giao. Việc điều động, luân chuyển cán bộ cũng đã có tác dụng nâng cao năng lực chỉ huy điều hành, quản lý của cán bộ. Cùng với phong trào sáng kiến, hiến kế trong Công ty, gần 20 năm làm mỏ, dù ở cương vị nào, công nhân trực tiếp, cán bộ kỹ thuật, quản lý, rồi Giám đốc doanh nghiệp, anh là người luôn đi đầu trong phong trào phát huy sáng kiến, hiến kế, với hàng chục sáng kiến, giá trị làm lợi hàng chục tỷ đồng, nhiều năm liền anh được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo.

Để duy trì sản lượng khai thác và tiêu thụ 1 triệu tấn than mỗi năm, trong đó xuất khẩu 400 ngàn tấn, than Hà Tu lại được ưa chuộng của nhiều khách hàng nước ngoài, trong điều kiện vỉa 16 khai trường chính ngày càng xuống sâu, khó khăn nhiều, mà lấy than càng nhiều ở đây thì tuổi thợ mỏ càng sớm kết thúc, Anh đã đề xuất và trực tiếp điều hành, chỉ đạo việc thăm dò, tìm kiếm tài nguyên các vùng phụ cận. Tổ chức khai thác lại Vỉa Trụ, từ vỉa có chất lượng than xấu, nay kết hợp khai thác chọn lọc bằng máy xúc thủy lực gầu ngược và thủ công đã làm ra than xuất khẩu. Vùng tụt lở, phay phá của Vứa 7+8 đưa máy xúc vào tìm kiếm mở ra nguồn tài nguyên mới, chất lượng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, đóng góp mỗi năm trên 100.000 tấn. Than các vỉa kẹp, vỉa mỏng, nếu dùng máy xúc khai thác công nghiệp sẽ không đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, anh  đề xuất phương pháp dùng máy xúc đi hào mở vỉa, lao động khai thác thủ công chọn lọc, đưa vào nghiền, sàng tuyển mini, đã tăng sản lượng than tốt, đó chính là điều kiện có thêm việc làm không chỉ cho công nhân, mà còn tiếp nhận thêm hơn 500 lao động của đơn vị bạn trong ngành đang gặp khó khăn và hàng năm tiếp nhận hàng trăm lao động là con em trên địa bàn. Có nhiều người khi đến Hà Tu thăm quan, học tập, đặt câu hỏi: “ sản lượng than Hà Tu không tăng, lao động những năm gần đây từ 2.100 người tăng lên 3.500 người, nhưng tiền lương lại không giảm, còn tăng bình quân từ 8-10%/năm “ Đó chính là bí quyết, là cách nghĩ, cách làm đúng, táo bạo, năng động, sáng tạo cho người đứng đầu doanh nghiệp, hay nói đúng hơn là “Một người biết lo, cho một kho người có đủ việc làm, ổn định thu nhập”.

Sản xuất kinh doanh phát triển, để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, việc đầu tiên được anh chú trọng là công tác quản lý, trọng tâm là quản lý đầu vào, để hạ giá thành sản phẩm than. Anh đã đề xuất và quyết định thành lập phòng Khoa học –  Công nghệ , Phòng Quản lý khoán. Đầu tư hàng tỷ đồng để hoàn thiện hệ thống quản lý bằng mạng vi tính trong Công ty. Khoán chi phí sản xuất và tiền lương đến từng công trường, đầu xe máy, tổ sản xuất.

Tính từ tháng 3/1999, đến tháng 3/2003, vừa tròn 4 năm làm nghề giám đốc, mới chỉ là sự khởi đầu. Nhưng đối với anh, bốn năm qua là sự đột phá, định mức cho những phát triển trong tương lai của Công ty. Sản lượng than khai thác từ sau năm 2000 không những không bị giảm xuống 800.000 tấn/năm như khảo sát thiết kế, mà còn tiếp tục duy trì công suất 1 triệu tấn/năm đến năm 2010. Trong những năm qua, mức tăng trưởng của sản xuất kinh doanh năm sau luôn cao hơn năm trước từ 10%-15%, doanh thu từ 140 tỷ đồng năm 1999 tăng lên 242 tỷ đồng năm 2002, lợi nhuận từ vài trăm triệu đồng/năm, tăng lên gần 10 tỷ đồng năm 2002, theo đó mà các nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, chăm lo công tác xã hội, từ thiện, xóa đói, giảm nghèo và các hoạt động văn hóa –  thể thao cũng phát triển, được đầu tư, chăm lo nhiều hơn. Việc làm, thu nhập lương của CNVC bình quân hàng năm được tăng lên từ 1.000.000 đồng/người/tháng năm 1999 đến 1.450.000 đồng/người/tháng năm 2002. Đời sống vật chất, tinh thần của người lao động và gia đình được cải thiện. Nhiều gia đình thợ mỏ có điều kiện xây nhà cao tầng, mua sắm đồ dùng đắt tiền, phương tiện xe máy, phố mỏ, xóm thợ CNVC, xóm thợ được nhân lên.

Không chỉ điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo nên diện mạo mới của Công ty, Giám đốc Nguyễn Văn Sinh còn đặc biệt quan tâm đến công tác xã hội trên địa bàn, xóa đói giảm nghèo, trợ giúp vùng sâu, vùng xa. Mỗi năm, Công ty dành ra hàng trăm triệu đồng để ủng hộ, xây tặng, mua sắm dụng cụ, thiết bị học tập cho học sinh các trường trên địa bàn. Anh có một tâm niệm, ủng hộ địa phương, các trường học, chăm lo đến các gia đình chính sách, là trách nhiệm của thợ mỏ, đối với con em của chính mình. Còn đối với vùng xa, vùng sâu, xã nghèo, được Tỉnh phân công trợ giúp, có lần anh cùng cán bộ của Công ty, vượt đèo, lội suối, vào tận bản Khe San, xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên, để tìm vị trí xây trường học, tặng cho con em dân bản. Trong 4 năm làm giám đốc, anh đã tạo ra hàng ngàn chỗ làm mới để tiếp nhận con em công nhân mỏ và nhân dân trong vùng vào làm.

Ma tuý là hiểm hoạ của xã hội, những năm qua, tệ nạn này đã len lỏi vào trong đội ngũ thợ mỏ. Cuộc đấu tranh và phòng chống có nhiều cách làm, nhiều phương kế, nhiều kết quả trái ngược nhau. Giám đốc Nguyễn Văn Sinh có một nhận thức khác, ma túy là tệ nạn xã hội, nhưng người nghiện ma túy là người mắc bệnh xã hội, cần phải được động viên, gần gũi và điều trị như một bệnh nhân, bằng tinh thần, kết hợp với y học. Anh gặp gỡ, tiếp xúc với gần 40 đối tượng mắc nghiện trong Công ty, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, rồi giải thích, động viên và đưa ra những quyết định có lý, có tình. Công ty tạo điều kiện, trợ cấp chi phí, cho đi điều trị cai nghiện bằng phương pháp châm cứu tại Viện Châm cứu Trung ương. Đi chữa rồi, về tái nghiện sẽ thanh lý hợp đồng lao động. Từ cách nghĩ đúng và việc làm tình nghĩa, trách nhiệm, đã có hơn 30 người đi chữa trị khỏi bệnh trở về với đội ngũ, làm việc, công tác bình thường, tạo dựng thêm niềm tin, niềm vui trong CNVC và gia đình người bệnh.

Trong phong trào văn hóa –  thể thao, anh là người đề xuất, khởi xướng, tạo dựng phong trào, được lãnh đạo và CNVC đồng tình ủng hộ, tham gia hoạt động phong trào cũng như đóng góp quỹ văn hóa –  thể thao trong Công ty. Nhiều năm liền, từ 1999-2002, Công ty Than Hà Tu đều được tặng cờ, bằng khen của tỉnh Quảng Ninh, UB Thể dục thể thao quốc gia, được công nhận là điểm sáng về Văn hóa –  thể thao của các đơn vị trong ngành Than. Đội Văn nghệ đi biểu diễn, phục vụ như một gánh hát chuyên nghiệp, đội bóng chuyền nữ từ phong trào lên hạng các đội mạnh toàn quốc, đội bóng đá Nam, Nữ, bóng chuyền Nam, cầu lông, bóng bàn, cũng dành nhiều thứ hạng của Tỉnh, ngành Than. Bản thân anh, không chỉ ở cương vị một Giám đốc chỉ quan tâm đầu tư, chỉ đạo phong trào, mà còn là một vận động viên, luôn có mặt trên sân thi đấu, giành những thứ hạng cao trong các giải của Tỉnh, ngành Than. Anh được nhận nhiều Giấy khen, Bằng khen và Huy chương vì sự nghiệp Thể thao Việt Nam. Với cương vị là Giám đốc một Công ty khai thác than lớn, mặc dù bận trăm công nghìn việc, anh vẫn tích cực tham gia công tác Đảng, đoàn thể, anh là Tỉnh uỷ viên tỉnh Đảng bộ Quảng Ninh, Uỷ viên thường cụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Là người đứng mũi chịu sào, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hơn 3000 thợ mỏ, trong điều kiện tài nguyên ngày càng cạn kiệt, suy tư, lo lắng trăm bề, nhưng anh Sinh luôn tìm được thời gian, tạo được cuộc sống thoải mái cho mình, hàng ngày tham gia hoạt động thể thao, cùng thợ mỏ uống bia, giải khát sau mỗi trận thi đấu với nhiều câu chuyện vui, dí dỏm, hài hước. Là người cha mẫu mực, các con đang noi gương anh học giỏi và anh luôn động viên các con bằng các phần quà nho nhỏ, giúp vợ trong công việc gia đình và động viên chị hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan. Gia đình anh luôn có những bữa ăn vui xum họp và những cuộc đi chơi dã ngoại vào những ngày cuối tuần. Anh sống thật chân thành giản dị, gần gũi với mọi người.

Đến Công ty Than Hà Tu, vào những ngày tháng đầu năm 2003, tôi người viết bài này, và bạn những người đã đến, sẽ đến, cùng chung một nhận xét: Hà Tu đổi thay nhiều, Hà Tu khang trang đẹp, đã và đang phát triển bền vững trên nền sản xuất than ở tuổi trên 40 đầy xung sức và tuổi 45 đầy nghị lực của một Giám đốc xuất thân, trưởng thành từ con em của thợ mỏ Hà Tu. Những khai trường sản xuất, nhà xưởng, văn phòng, Trung tâm Văn hoá - thể thao công nhân, những phố mỏ, đến đời sống gia đình người thợ, rồi cả những trưng bày tại nhà truyền thống 40 năm xây dựng, trưởng thành của thợ mỏ Công ty Than Hà Tu, những phần thưởng cao quý: Bằng khen, Huân chương, Cờ Luân lưu của Bác Hồ, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân sẽ là những hiện thực minh chứng cho nhận xét trên của tôi và bạn, về Công ty và về Giám đốc của thợ mỏ Hà Tu.