Trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của phát triển, sức sống của một chủ trương không chỉ được khẳng định trong văn kiện, mà còn được thể hiện qua khả năng đi vào thực tiễn. Khi đường lối đúng được cụ thể hóa bằng sản phẩm, quy trình, dịch vụ và kết quả vận hành, niềm tin xã hội được bồi đắp từ chính những thay đổi có thể nhìn thấy trong đời sống.
Câu chuyện chuyển đổi số tại EVNHCMC không chỉ là một trường hợp ứng dụng công nghệ trong ngành điện. Đó còn là dẫn chứng cụ thể cho thấy chủ trương của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thể được chuyển hóa thành năng lực phục vụ, năng lực quản trị và năng lực vận hành trong một lĩnh vực hạ tầng thiết yếu.
Một dấu mốc đáng chú ý là sản phẩm “EVNHCMC phát triển nền tảng số phục vụ khách hàng” được Viet Nam I4 Impact Awards năm 2026 ghi nhận ở hạng mục 2.1: Công nghệ tạo tác động tích cực - I4 Tech For Good Award. Tại chương trình này, ông Phạm Quốc Bảo - Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNHCMC được ghi nhận ở hạng mục 4.2: Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số - I4 Innovation Leadership Award; sản phẩm “EVNHCMC phát triển lưới điện thông minh Thành phố Hồ Chí Minh” đạt hạng mục 2.2: Đổi mới sáng tạo vì phát triển bền vững, môi trường xanh - I4 Green Innovation Award.
Các giải thưởng là sự ghi nhận đối với những kết quả EVNHCMC đạt được, nhưng phía sau sự ghi nhận ấy là cả một quá trình ngành điện Thành phố kiên trì triển khai chủ trương về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bằng những việc làm cụ thể. Với EVNHCMC, chuyển đổi số không xuất hiện như một khẩu hiệu, mà là quá trình tích lũy nhiều năm, từ những ứng dụng công nghệ thông tin ban đầu đến hệ sinh thái số phục vụ khách hàng, quản trị doanh nghiệp và vận hành lưới điện thông minh.
Từ chủ trương lớn đến chuyển động cụ thể trong ngành điện
Trong hơn một thập kỷ qua, chuyển đổi số tại EVNHCMC không phải là kết quả nhất thời, mà là quá trình được hình thành từ việc kiên trì triển khai các chủ trương lớn của Đảng về khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới mô hình tăng trưởng và hiện đại hóa đất nước. Từ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng đã xác định phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế đã mở rộng yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các ngành, các cấp. Với ngành điện, tinh thần này được cụ thể hóa trong quá trình số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng, phát triển kênh giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và hình thành các nền tảng chăm sóc khách hàng trên môi trường số.
Đến năm 2019, Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, công nghệ số và nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới. Đây là cơ sở quan trọng để nhìn nhận lưới điện thông minh, trung tâm điều khiển từ xa, hệ thống SCADA, DAS, DMS, GIS, công tơ đo xa hay bản đồ quản lý mất điện không chỉ là ứng dụng kỹ thuật riêng lẻ, mà là một phần của quá trình hiện đại hóa hạ tầng năng lượng.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu mạnh mẽ hơn về tốc độ, chất lượng và tính đột phá trong tổ chức thực hiện.
Với EVNHCMC, những kết quả đạt được trong giai đoạn 2010 - 2025 cho thấy chuyển đổi số của ngành điện Thành phố không chỉ là sự hưởng ứng một nghị quyết mới, mà là kết quả của cả quá trình tích lũy, chuẩn hóa, đầu tư, làm chủ công nghệ và đổi mới phương thức phục vụ trong nhiều năm.
Khi định hướng lớn được chuyển hóa thành nền tảng số phục vụ khách hàng, lưới điện thông minh, trung tâm điều khiển từ xa, công tơ đo xa, dữ liệu vận hành và dịch vụ điện trực tuyến, đường lối phát triển dựa trên tri thức và công nghệ trở nên gần gũi hơn, hiện hữu hơn.
Với ngành điện, điều này càng rõ. Điện năng không chỉ là một loại hàng hóa đặc biệt, mà còn là điều kiện nền tảng của sản xuất, sinh hoạt, y tế, giáo dục, thương mại, giao thông và quản trị đô thị. Một đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu hệ thống điện an toàn, liên tục, có khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu ngày càng tăng và phức tạp. Vì vậy, chuyển đổi số của ngành điện không đơn thuần là câu chuyện nội bộ của doanh nghiệp, mà gắn trực tiếp với chất lượng sống của người dân, môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh của thành phố và quá trình xây dựng đô thị thông minh.
Chuyển đổi số cũng cần được hiểu đúng. Đó không phải là việc đưa thêm phần mềm vào quy trình cũ, càng không chỉ là số hóa hồ sơ hay thay thế một vài thao tác thủ công bằng thao tác trực tuyến. Chuyển đổi số là quá trình tổ chức lại dữ liệu, quy trình, con người và phương thức ra quyết định. Trong ngành điện, điều này thể hiện ở khả năng dự báo nhu cầu phụ tải, giám sát vận hành theo thời gian thực, rút ngắn thời gian xử lý sự cố, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và tạo thêm công cụ để người dân sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả hơn.
Doanh nghiệp nhà nước trong dòng chảy đổi mới và phục vụ Nhân dân
Khi nói về doanh nghiệp nhà nước, đôi khi vẫn có ý kiến cho rằng khu vực này khó đổi mới, vận hành nặng tính hành chính và chậm thích ứng với công nghệ mới. Tuy nhiên, thực tiễn ở nhiều lĩnh vực then chốt cho thấy bức tranh đa chiều hơn. Với những doanh nghiệp đang đảm nhiệm hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế, đổi mới không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà còn gắn với trách nhiệm phục vụ xã hội và bảo đảm lợi ích công cộng.
EVNHCMC là một trường hợp như vậy. Tổng công ty đã có quá trình nhiều năm chủ động ứng dụng công nghệ thông tin vào hầu hết các mặt hoạt động; đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nghệ thông tin được đào tạo bài bản, am hiểu nghiệp vụ và có khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến. Ngay từ những ứng dụng ban đầu như kết nối với ngân hàng để thiết lập hệ thống thu hộ tiền điện, EVNHCMC đã làm thay đổi hình thức giao dịch giữa khách hàng với ngành điện.
Từ những bước khởi đầu đó, chuyển đổi số tại EVNHCMC dần mở rộng sang nhiều lĩnh vực: quản lý kỹ thuật, quản trị nội bộ, dịch vụ khách hàng, dữ liệu lưới điện và điều hành hệ thống. EVNHCMC đã phát triển các phần mềm quản lý tập trung từ năm 2010, từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu về lưới điện Thành phố; đồng thời số hóa công tác quản lý kỹ thuật, trong đó có quản lý vận hành lưới điện, nhật ký vận hành điện tử, các phần mềm quản lý mất điện, giám sát sửa chữa điện và giám sát an toàn trực tuyến.
Quá trình này cho thấy đổi mới không phải là một phong trào nhất thời. Đó là sự tích lũy dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, thay đổi cách vận hành và tạo năng lực mới cho doanh nghiệp. Với một đơn vị cung cấp điện cho đô thị đặc biệt, mỗi cải tiến nhỏ trong vận hành đều có thể tác động đến số lượng lớn khách hàng. Mỗi thao tác được số hóa, mỗi dữ liệu được kết nối, mỗi dịch vụ được đưa lên môi trường trực tuyến đều góp phần giảm chi phí xã hội, rút ngắn thời gian chờ đợi, tăng tính minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ.
Trong lĩnh vực điện lực, nhiệm vụ của doanh nghiệp không chỉ là cung ứng điện năng, mà còn là bảo đảm an ninh năng lượng, duy trì ổn định hệ thống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thích ứng với yêu cầu mới về chuyển đổi xanh, tiết kiệm năng lượng và đô thị thông minh. Khi một đơn vị điện lực đô thị nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, rút ngắn thời gian mất điện, tăng tỷ lệ giao dịch trực tuyến, giảm tổn thất điện năng và hiện đại hóa lưới điện, lợi ích lan tỏa tới toàn bộ đời sống đô thị.
Trong các lĩnh vực thiết yếu, chất lượng phục vụ Nhân dân là thước đo rất quan trọng. Với ngành điện, khách hàng không chỉ cần nguồn điện ổn định, mà còn cần dịch vụ thuận tiện, thông tin minh bạch, phản hồi nhanh và các kênh giao dịch dễ tiếp cận. Chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa thực chất khi người dân cảm nhận được sự thay đổi ấy trong đời sống hằng ngày.
EVNHCMC đã chuyển quản lý hồ sơ, hợp đồng cung cấp dịch vụ điện sang hình thức điện tử; triển khai giao dịch điện tử cho 19/19 dịch vụ về điện; kết nối cung cấp dịch vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, Cổng hành chính công của Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời tạo nhiều kênh giao dịch trực tuyến như website, ứng dụng trên thiết bị di động và Zalo. Website và ứng dụng chăm sóc khách hàng của EVNHCMC cũng kết nối, khai thác dữ liệu từ hệ thống đo xa để cung cấp thông tin tiêu thụ điện hằng ngày cho khách hàng, giúp khách hàng theo dõi lượng điện năng tiêu thụ và tương tác với ngành điện thuận tiện hơn.
Khi hợp đồng điện tử thay cho hồ sơ giấy, khi dịch vụ điện được xử lý trực tuyến, khi khách hàng có thể theo dõi điện năng tiêu thụ hằng ngày, khi kênh thanh toán không dùng tiền mặt được mở rộng, quan hệ giữa ngành điện và khách hàng thay đổi theo hướng minh bạch, chủ động và thuận tiện hơn.
Số liệu cũng cho thấy mức độ chuyển động rõ rệt. EVNHCMC hợp tác với 23 ngân hàng và 11 đối tác thu hộ tiền điện, tạo mạng lưới kênh thanh toán trực tuyến để khách hàng thanh toán mọi lúc, mọi nơi; tỷ lệ thanh toán tiền điện bằng hình thức điện tử, không dùng tiền mặt đạt trên 99% cả về số khách hàng và giá trị thanh toán.
Những kết quả gần đây cho thấy quá trình hiện đại hóa tại EVNHCMC đã đi vào chiều sâu. Năm 2025, Tổng công ty được vinh danh Top Công nghiệp 4.0 Việt Nam, trong đó chỉ số lưới điện thông minh năm 2024 của EVNHCMC đạt 80,4/100 điểm, xếp 41/92 công ty điện lực có lưới điện thông minh trên thế giới. EVNHCMC cũng được nhắc đến với các giải thưởng quốc tế liên tiếp trong lĩnh vực lưới điện thông minh, như Smart Grid Project of the Year tại ENLIT ASIA 2023, Smart Grid Award 2024 của Power Magazine cho dự án tự động hóa lưới điện phân phối DAS, và giải thưởng tại ENLIT ASIA 2024 với dự án “Bản đồ quản lý mất điện”.
Ở đây, giá trị của chuyển đổi số gắn với một câu chuyện: người dân được phục vụ tốt hơn. Những trải nghiệm như thanh toán thuận tiện, theo dõi điện năng tiêu thụ, giảm giao dịch trực tiếp, tiếp cận dịch vụ qua nền tảng số có thể không ồn ào, nhưng góp phần xây dựng niềm tin xã hội vào hiệu quả đổi mới.
Sản phẩm “EVNHCMC phát triển nền tảng số phục vụ khách hàng” được ghi nhận ở hạng mục Công nghệ tạo tác động tích cực - I4 Tech For Good Award vì vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài một danh hiệu. Nó cho thấy công nghệ, nếu đặt đúng trọng tâm phục vụ con người, có thể trở thành công cụ nâng cao chất lượng dịch vụ công ích, giảm khoảng cách giữa doanh nghiệp với khách hàng và củng cố hiệu quả quản trị của một doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực thiết yếu.
Lưới điện thông minh và năng lực vận hành đô thị hiện đại
Nếu nền tảng số phục vụ khách hàng cho thấy chuyển đổi số ở phía người sử dụng điện, thì lưới điện thông minh thể hiện sự thay đổi ở tầng sâu hơn: hạ tầng vận hành. Đây là phần ít được người dân nhìn thấy trực tiếp, nhưng lại quyết định chất lượng cung cấp điện, độ ổn định của hệ thống và khả năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
EVNHCMC đã hoàn thành tự động hóa 100% lưới điện trung thế, toàn bộ 57 trạm biến áp 110kV chuyển sang mô hình không người trực; việc giám sát và điều khiển lưới điện được thực hiện từ xa qua các công nghệ như DAS, DMS, SCADA và GIS. Các công cụ này hỗ trợ phát hiện sự cố tức thời, dự báo rủi ro và nâng cao khả năng ứng phó.
Ở tầng vận hành, các số liệu cập nhật đến năm 2024 cho thấy hiệu quả rõ rệt của quá trình hiện đại hóa lưới điện. Trong giai đoạn 2010 - 2024, chỉ số thời gian mất điện trung bình của khách hàng SAIDI giảm từ 3.964 phút/năm xuống còn 25,5 phút/năm; chỉ số số lần mất điện trung bình SAIFI giảm từ 28,85 lần xuống còn 0,28 lần; tỷ lệ tổn thất điện năng giảm từ 5,82% xuống 2,98%. Những chỉ số này không chỉ là số liệu kỹ thuật. Đó là thước đo chất lượng phục vụ, năng lực quản lý và mức độ hiện đại hóa của một hệ thống hạ tầng thiết yếu.
Năm 2025, EVNHCMC tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu trong các đơn vị trực thuộc EVN. Tổng công ty đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cực đại của thành phố ở mức 8.936 MW; sản lượng điện thương phẩm đạt 43,6 tỷ kWh, tăng 1,23% so với cùng kỳ và đạt 100,76% kế hoạch EVN giao. Tỷ lệ tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối ở mức 2,86%, tốt hơn kế hoạch EVN giao là 3,10%; sản lượng điện tiết kiệm đạt 1.090 triệu kWh, chiếm 2,50% điện thương phẩm. Cũng trong năm này, EVNHCMC hoàn thành công trình thi đua “Xây dựng lưới điện thông minh tại Đặc khu Côn Đảo”, một công trình được đánh giá có ý nghĩa đối với định hướng phát triển xanh, thông minh và bền vững của Côn Đảo.
Từ góc độ phát triển bền vững, lưới điện thông minh còn gắn với chuyển đổi xanh. EVNHCMC đã triển khai dự án thí điểm hệ thống lưới điện thông minh siêu nhỏ Microgrid có tích hợp điện lưới, năng lượng tái tạo, máy phát và hệ thống pin tích trữ năng lượng đầu tiên tại Việt Nam; triển khai chương trình tiết kiệm điện; bảo đảm hạ tầng cho xe điện tại Thành phố Hồ Chí Minh với 240 trạm sạc và 790 cổng sạc ô tô điện VinFast; sản lượng điện tiết kiệm đạt 2,22%, cắt giảm đỉnh phụ tải giờ cao điểm trưa khoảng 200MW.
Nhìn rộng hơn, lưới điện thông minh là điều kiện quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh tiến tới mô hình đô thị thông minh và phát triển xanh. Khi xe điện phát triển, năng lượng tái tạo phân tán gia tăng, các tòa nhà thông minh mở rộng và nhu cầu tiết kiệm năng lượng trở nên cấp thiết, lưới điện phải có năng lực đo đếm, điều khiển, dự báo và tối ưu hóa tốt hơn.
Do đó, đầu tư cho lưới điện thông minh không chỉ là đầu tư cho ngành điện, mà là đầu tư cho năng lực phát triển của đô thị. Hệ thống điện càng ổn định, linh hoạt và dữ liệu hóa, thành phố càng có thêm dư địa để phát triển công nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử, logistics hiện đại, dịch vụ số và các mô hình kinh tế xanh.
Những dữ liệu này cho thấy sản phẩm “EVNHCMC phát triển lưới điện thông minh Thành phố Hồ Chí Minh” được ghi nhận ở hạng mục Đổi mới sáng tạo vì phát triển bền vững, môi trường xanh - I4 Green Innovation Award không phải là một kết quả riêng lẻ. Nó nằm trong quá trình dài xây dựng năng lực vận hành mới của ngành điện Thành phố: hiện đại hơn, dữ liệu hóa hơn, tự động hóa hơn và gắn với yêu cầu phát triển xanh.
Từ vai trò con người đến sức sống của nghị quyết trong thực tiễn
Chuyển đổi số không thể thành công nếu chỉ dựa vào công nghệ. Trong một doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, quá trình đó đòi hỏi vai trò của người đứng đầu, năng lực của đội ngũ kỹ thuật và sự đồng thuận trong toàn hệ thống. Việc ông Phạm Quốc Bảo - Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNHCMC được Viet Nam I4 Impact Awards năm 2026 ghi nhận ở hạng mục Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số - I4 Innovation Leadership Award cho thấy quá trình đổi mới gắn chặt với năng lực lãnh đạo, định hướng chiến lược và tổ chức thực hiện.
EVNHCMC đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2010 - 2025, đánh dấu chặng đường 15 năm chuyển đổi mạnh mẽ, đưa ngành điện Thành phố đi đầu trong ứng dụng công nghệ tiên tiến và định hướng chiến lược phát triển giai đoạn 2025 - 2030. Hội nghị đồng thời tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phong trào thi đua lao động sáng tạo.
Trong báo cáo tại hội nghị, EVNHCMC điểm lại các thành tựu nổi bật trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần hiện đại hóa hệ thống điện Thành phố Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và bảo đảm cung cấp điện ổn định, liên tục cho thành phố. Từ năm 2010 đến 2025, các hoạt động này được ứng dụng toàn diện vào quản lý vận hành hệ thống điện, kinh doanh và dịch vụ khách hàng, đầu tư phát triển và quản trị doanh nghiệp.
Vai trò của người đứng đầu không nằm ở khẩu hiệu “quyết liệt” đơn thuần. Vai trò ấy thể hiện ở khả năng biến định hướng thành chương trình hành động, tạo điều kiện cho đội ngũ kỹ thuật làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới trong từng lĩnh vực và duy trì liên tục trong nhiều năm. Khi một doanh nghiệp nhà nước có thể tạo ra chuỗi kết quả từ dịch vụ khách hàng trực tuyến đến lưới điện thông minh, từ công tơ đo xa đến trung tâm điều khiển, từ dữ liệu vận hành đến quản trị doanh nghiệp, thì chuyển đổi số đã trở thành một phần của năng lực tổ chức.
Đổi mới trong một hệ thống kỹ thuật lớn như ngành điện không thể tiến hành bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần. Nó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin, công nhân vận hành và nhân sự dịch vụ khách hàng cùng thay đổi cách làm việc. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được cập nhật chính xác; phần mềm chỉ phát huy hiệu quả khi quy trình được chuẩn hóa; công nghệ điều khiển từ xa chỉ an toàn khi đội ngũ vận hành có năng lực làm chủ; nền tảng số phục vụ khách hàng chỉ tạo được niềm tin khi phản hồi nhanh, thông tin đúng và dịch vụ ổn định.
Đây cũng là một khía cạnh quan trọng trong quá trình đưa nghị quyết vào đời sống. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương; nhưng đường lối, chủ trương chỉ có sức sống khi được các tổ chức, cán bộ, đảng viên, người lao động cụ thể hóa bằng trách nhiệm, trí tuệ và kết quả lao động. Khi đội ngũ trong doanh nghiệp nhà nước biết chuyển chủ trương thành sản phẩm, quy trình và chỉ số vận hành cụ thể, đó chính là biểu hiện sinh động của năng lực tổ chức thực hiện.
Sức thuyết phục của một chủ trương lớn không chỉ đến từ cách diễn giải về mặt lý luận, mà còn đến từ những kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội. EVNHCMC cho thấy chủ trương của Đảng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không dừng lại ở văn bản, mà được cụ thể hóa bằng nền tảng số phục vụ khách hàng, dịch vụ điện trực tuyến, thanh toán điện tử, công tơ đo xa, lưới điện thông minh, trạm biến áp không người trực, trung tâm điều khiển, dữ liệu vận hành và những chỉ số cải thiện rõ rệt về độ tin cậy cung cấp điện.
Khi nghị quyết được cụ thể hóa bằng những thay đổi mà người dân trực tiếp cảm nhận được, như sử dụng dịch vụ điện thuận tiện hơn, theo dõi điện năng tiêu thụ minh bạch hơn, thanh toán nhanh hơn, thời gian mất điện giảm hơn, thì niềm tin xã hội được củng cố bằng chính trải nghiệm thực tế.
Từ góc độ đó, chuyển đổi số tại EVNHCMC không chỉ là thành tựu của một doanh nghiệp ngành điện, mà còn là minh chứng cho năng lực tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng trong một lĩnh vực hạ tầng thiết yếu. Khi doanh nghiệp nhà nước chủ động đổi mới, làm chủ công nghệ, nâng cao hiệu quả vận hành và phục vụ người dân tốt hơn, đường lối phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được chứng minh bằng kết quả cụ thể.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì vậy không chỉ nằm ở việc khẳng định tính đúng đắn của đường lối, mà còn ở khả năng làm cho đường lối ấy hiện diện trong thực tiễn phát triển. Khi người dân được phục vụ tốt hơn, khi doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn, khi hạ tầng thiết yếu trở nên thông minh hơn, khi đô thị có thêm điều kiện phát triển xanh và bền vững hơn, đó chính là những bằng chứng sinh động về sức sống của nghị quyết trong đời sống.
Kết luận
Từ thực tiễn tại Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh, có thể thấy việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được nhìn nhận qua những kết quả cụ thể: chất lượng phục vụ khách hàng được nâng lên, giao dịch điện tử được mở rộng, thanh toán không dùng tiền mặt đạt tỷ lệ cao, độ tin cậy cung cấp điện được cải thiện, tổn thất điện năng giảm và lưới điện đô thị từng bước được vận hành theo hướng thông minh, hiện đại. Những kết quả ấy cho thấy chủ trương của Đảng không dừng lại ở định hướng, mà đã được chuyển hóa thành năng lực phục vụ sản xuất, đời sống và phát triển bền vững.
Với doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi số phải gắn với trách nhiệm phục vụ xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị, tiết kiệm nguồn lực, tăng tính minh bạch và đáp ứng yêu cầu phát triển xanh. Trong môi trường thông tin nhiều chiều, những mô hình như EVNHCMC là chất liệu thực tiễn để làm sâu sắc hơn công tác tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một nền tảng số phục vụ khách hàng, một lưới điện thông minh, một chỉ số mất điện được cải thiện, một tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt đạt mức cao, một mô hình trạm biến áp không người trực vận hành an toàn - tất cả đều là những minh chứng gần gũi cho thấy đường lối đổi mới, phát triển dựa trên khoa học công nghệ và phục vụ Nhân dân đang được hiện thực hóa trong đời sống.
Khi chủ trương đúng được tổ chức thực hiện bài bản, khi người đứng đầu giữ được vai trò dẫn dắt và đội ngũ kỹ thuật được trao điều kiện để làm chủ công nghệ, khoa học công nghệ sẽ không dừng lại trong báo cáo tổng kết, mà trở thành năng lực vận hành, năng lực phục vụ và năng lực phát triển. Từ những thành quả cụ thể ấy, đường lối phát triển của Đảng được khẳng định bằng chính thực tiễn đời sống.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương. (2012). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Tạp chí Công Thương. (2025). EVNHCMC: Hành trình từ lưới điện thủ công đến doanh nghiệp số hàng đầu khu vực.
- Tạp chí Công Thương. (2025). EVNHCMC và những đột phá trong hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
- Tạp chí Công Thương. (2026). EVNHCMC đưa lưới điện thông minh đến Đặc khu Côn Đảo.
- Tạp chí Công Thương. (2021). EVNHCMC: Chuyển đổi số lấy con người làm trung tâm
