Tóm tắt:

Sau sáp nhập Phú Thọ có nhiều thuận lợi trong phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT), đặc biệt là ngành CNHT cơ khí ô tô, xe máy do tỉnh Vĩnh Phúc trước đây nay được sáp nhập với tên gọi mới là tỉnh Phú Thọ đã dày công thu hút những doanh nghiệp lớn có quy mô toàn cầu trong 30 năm qua, như Toyota, Honda, Piaggio, Polaris... Bài viết này phân tích những chính sách hỗ trợ của Trung ương và  địa phương trong phát triển và xây dựng hệ sinh thái CNHT; chỉ ra một số thành tựu cũng như tồn tại của doanh nghiệp CNHT cơ khí ô tô, xe máy tại địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nghiên cứu này chỉ ra những tồn tại về năng lực Công nghệ thông tin (CNTT) của người lao động trên địa bàn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những kiến nghị tới tỉnh Phú Thọ để có những chính sách phù hợp, nhằm thu hút doanh nghiệp CNHT phát triển, nhưng một mặt cũng nâng cao năng lực CNTT cho những doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả.

Từ khóa: cơ khí, ô tô, xe máy, công nghiệp hỗ trợ, sáp nhập, tỉnh Phú Thọ.

1. Đặt vấn đề

Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 được ban hành ngày 16 tháng 7 năm 2014 theo Quyết định số 1168/QĐ-TTg của Chính phủ đánh dấu sự kỳ vọng lớn của Chính phủ trong việc phát triển ngành Công nghiệp Ô tô tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngành Công nghiệp hỗ trợ cơ khí ô tô, xe máy của Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của Việt Nam. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều sản phẩm cơ khí chủ chốt còn thấp, mới tập trung ở các linh kiện đơn giản giá trị thấp. Phần lớn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất cơ khí (thép hợp kim, nhựa kỹ thuật, linh kiện điện tử...) vẫn phải nhập khẩu, làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm cơ khí nội địa. Chưa hình thành được mối hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp lắp ráp lớn với nhà sản xuất phụ tùng trong nước, dẫn đến chuỗi cung ứng cơ khí nội địa chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cơ khí Việt Nam còn thiếu đầu tư cho R&D, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Những hạn chế này khiến khả năng sáng tạo và cạnh tranh quốc tế của ngành cơ khí chưa cao.

Sau sáp nhập, tỉnh Vĩnh Phúc cũ là thủ phủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ hiện nay, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp vốn FDI và doanh nghiệp nội địa. Bên cạnh việc địa phương đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đa quốc gia ngành ô tô, xe máy đến sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, song cũng rất chú trọng trong việc phát triển doanh nghiệp CNHT đủ năng lực cung ứng cho các doanh nghiệp đầu tàu đó. Tuy nhiên, đến nay, số doanh nghiệp CNHT trên địa bàn là nhà cung ứng cấp 1 và cung ứng cấp 2 còn chưa tương xứng với tiềm lực của địa phương. Trong tọa đàm mừng 30 năm Toyota hoạt động tại Việt Nam (Toyota, 2025), Công ty công bố chỉ có 1 đơn vị duy nhất tại tỉnh Phú Thọ là nhà cung ứng cho Toyota. Thêm nữa, trong báo cáo của Khánh Linh (2020), tác giả cho biết địa phương chỉ có 4 doanh nghiệp là nhà cung ứng cấp 1 cho Honda đến năm 2020. Có thể nhận thấy, năng lực của đa số doanh nghiệp CNHT trên địa bàn tỉnh còn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối trên địa bàn. Doanh nghiệp CNHT trên địa bàn có quy mô nhỏ và vừa, công nghệ chính xác thấp, thiếu sự tích hợp tổng thể. Năng suất lao động của các doanh nghiệp còn thấp, do nhiều công đoạn còn thực hiện một cách thủ công. Hoạt động chuyển đổi số cần được thực hiện một cách bài bản và có chiến lược. Trong quá trình triển khai Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia 2025 định hướng đến 2030 cho thấy, đa số các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí, ô tô, xe máy có chuyển đổi số mạnh ở khu vực hành chính. Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp mới dừng lại sử dụng những phần mềm quản trị đơn giản và riêng rẽ cho từng chuyên môn. Một số doanh nghiệp đã vươn lên thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 và có những đơn hàng xuất khẩu. Công cuộc chuyển đổi số đã giúp doanh nghiệp tăng năng lực quản trị và tăng năng suất lao động. Bên cạnh những kết quả tích cực, trên thực tế, việc triển khai chính sách CNHT cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế. Trước hết, hệ thống chính sách tuy đầy đủ nhưng hiệu quả thực thi chưa cao. Do vậy, doanh nghiệp thiếu động lực, cũng như khả năng tài chính để chuyển đổi số mạnh mẽ. Bài viết này phân tích các chính sách của Trung ương và địa phương, để từ đó làm căn cứ xây dựng đề xuất chính sách cho tỉnh với định hướng phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ một cách bền vững.

2. Các chính sách trung ương hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn từ 2015-2025

Quyết định số 1556/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án "Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ" ban hành ngày 17/10/2012 đã mở đường cho hàng loạt chính sách và hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp ngànhCNHT. Với nỗ lực phát triển ngành CNHT lên tầm cao mới, Bộ Công Thương đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2015 ngày 3/11/2015 về phát triển CNHT. Nghị định này đã xác định các nhóm chính sách hỗ trợ, gồm: nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế, phát triển thị trường, thành lập các trung tâm phát triển CNHT và chương trình phát triển CNHT. Nhằm thực hiện Nghị định này, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 55/2015/TT-BCT ngày 30 tháng 12 năm 2015 quy định trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với các Dự án Sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển; và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2017 phê duyệt Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025. Chương trình này tập trung kết nối doanh nghiệp CNHT với khách hàng trong và ngoài nước, thu hút đầu tư FDI vào CNHT; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản trị đáp ứng chuỗi cung ứng toàn cầu; đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực; hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ; và xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin về CNHT. Với những nỗ lực trong xây dựng chiến lược cho việc phát triển ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam, Bộ Công Thương đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018. Ngay sau đó, Bộ Chính trị cũng ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW (22/3/2018) định hướng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia, trong đó yêu cầu ưu tiên phát triển CNHT, tập trung vào các khâu yếu của chuỗi giá trị và thúc đẩy hình thành đội ngũ nhà cung ứng nội địa cho các ngành công nghiệp chủ lực. Để có cơ sở phê duyệt kinh phí thực hiện các nội dung chương trình hỗ trợ phát triển CNHT, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 29/2018/TT-BTC ngày 28/3/2018 hướng dẫn lập, quản lý và sử dụng kinh phí Chương trình phát triển CNHT.

Sau một thời gian triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp CNHT và thể hiện quyết tâm cao, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/2020 ngày 6 tháng 8 năm 2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển CNHT. Trong đó, Nghị quyết yêu cầu xây dựng chính sách thu hút đầu tư có ràng buộc, khuyến khích các tập đoàn nước ngoài tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ và tạo lan tỏa đến doanh nghiệp CNHT Việt Nam. Với nhiều nỗ lực hỗ trợ từ các cơ quan ban ngành từ Trung ương tới địa phương, ngành CNHT Việt Nam đã có những khởi sắc. Chương trình hợp tác giữa Bộ Công Thương và Tập đoàn Samsung đã giúp xây dựng mạng lưới chuyên gia với 200 tư vấn viên được đào tạo, đủ năng lực để tư vấn cho doanh nghiệp CNHT về năng suất, chất lượng và quản lý hiện trường sản xuất. Nhằm hiện thực hóa chiến lược phát triển ngành CNHT, Chính phủ đã thiết lập nhiều ưu đãi đặc thù hơn nữa tạo sức hút đầu tư vào lĩnh vực CNHT. Hàng loạt ưu đãi đã được đưa ra, cụ thể như dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc danh mục ưu tiên được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế TNDN 4 năm đầu và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo. Việc ban hành chính sách này mở cơ hội cho các doanh nghiệp CNHT, tuy nhiên lại tạo sự bất công bằng đối với những doanh nghiệp đã có giấy xác nhận ưu đãi trước năm 2015. Nhằm giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 nhằm bổ sung ưu đãi TNDN cho các dự án CNHT đã đầu tư trước năm 2015. Tuy nhiên, việc thẩm định hồ sơ ưu đãi chưa đạt được tiến độ như kỳ vọng. Trước những tồn tại trong lĩnh vực CNHT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 7 năm 2025 (sửa đổi Nghị định số 111/2015). Động thái này được đánh giá là bước ngoặt chính sách nổi bật. Nghị định 205 bổ sung nhiều ưu đãi mạnh mẽ hơn, tập trung vào công nghiệp hỗ trợ ngành Cơ khí - vốn được coi là “xương sống” của công nghiệp quốc gia. Cụ thể, các dự án sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế TNDN, thuế nhập khẩu linh kiện theo quy định hiện hành. Đồng thời, doanh nghiệp CNHT được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cơ sở sản xuất - một hỗ trợ thiết thực giúp giảm chi phí đầu tư nhà xưởng, đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp cơ khí cần mặt bằng lớn. Nghị định 205 còn mở rộng hỗ trợ tài chính đối với: các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực CNHT được Nhà nước hỗ trợ 50-70% chi phí nghiên cứu, đào tạo, kiểm định sản phẩm và được miễn giảm chi phí thuê đất cho cơ sở R&D. Nghị định này cũng bổ sung quy định mang tính “ràng buộc mềm” nhằm thúc đẩy liên kết: Mỗi dự án sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên muốn được hưởng ưu đãi phải có ít nhất 01 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước cung ứng nguyên vật liệu hoặc linh kiện chính cho dự án. Điều kiện mới này buộc các doanh nghiệp lớn (bao gồm FDI hoặc doanh nghiệp đầu tàu trong nước) khi đầu tư dự án CNHT phải chủ động tìm kiếm, ký hợp đồng với nhà cung cấp Việt Nam.

Đây là điểm mới hòa nhịp với mục tiêu Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2024. Với sự liệt kê các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, có thể nhận thấy sự tích cực của cơ quan Trung ương trong việc liên tục ban hành những cơ chế, chính sách để hướng đến phát triển ngành CNHT, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm CNHT.

Ngoài các ưu đãi tài chính, Chính phủ cũng chú trọng các hoạt động kết nối doanh nghiệp CNHT với đối tác trong và ngoài nước. Từ năm 2015 đến nay, hàng năm, Bộ Công Thương đều chủ trì các hội nghị kết nối cung cầu, hội thảo chuỗi cung ứng để tạo cơ hội gặp gỡ giữa nhà cung cấp nội địa và hãng sản xuất lớn. Quyết định số 71/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 1 năm 2024 về sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 68/QĐ-TTg năm 2017 cũng nhấn mạnh vào loạt hoạt động tổ chức diễn đàn kết nối giữa doanh nghiệp Việt và các tập đoàn đa quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, tìm kiếm thị trường trong nước và xuất khẩu; xúc tiến thu hút FDI vào lĩnh vực CNHT. Các hoạt động được triển khai sâu rộng thể hiện quyết tâm xây dựng một hệ sinh thái doanh nghiệp CNHT đủ mạnh vươn lên tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.

Các sự kiện kết nối tiêu biểu có thể kể đến như Triển lãm CNHT Việt Nam - Nhật Bản (được tổ chức thường niên tại Hà Nội) hay Hội chợ Triển lãm CNHT TP. Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, Hội chợ CNHT 2025 thu hút hàng trăm doanh nghiệp tham gia, kết nối hàng chục nghìn lượt giao thương, giá trị thương mại ước tính hàng trăm triệu USD. Đây thực sự là cầu nối giúp doanh nghiệp CNHT tìm kiếm đối tác, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Có thể nhận thấy sự tác động của các chính sách này đến sự phát triển ngành Cơ khí, đặc biệt là ngành Công nghiệp cơ khí ô tô, xe máy. Công nghiệp cơ khí được xem là “xương sống” của công nghiệp hỗ trợ, cung cấp linh kiện, phụ tùng cho nhiều ngành sản xuất. Từ năm 2015 đến nay, doanh nghiệp cơ khí trong nước đã sản xuất được hầu hết các loại xe máy với tỷ lệ nội địa hóa 85-95%, sản xuất được nhiều linh kiện cho ô tô (đáp ứng 15-40% nhu cầu linh kiện), máy nông nghiệp (40-60%) và các ngành công nghệ cao (khoảng 10%). Nhiều sản phẩm cơ khí trước đây phụ thuộc nhập khẩu thì nay dần được thay thế bằng sản phẩm do doanh nghiệp Việt chế tạo từ khuôn mẫu, linh kiện kim loại, dây cáp điện đến phụ tùng nhựa, cao su kỹ thuật. Một số tập đoàn công nghiệp trong nước như THACO, Thành Công, Vingroup đã đầu tư mạnh vào cơ khí chế tạo, góp phần hình thành những doanh nghiệp đầu tàu dẫn dắt chuỗi cung ứng trong nước. Chẳng hạn, THACO Industries (thuộc THACO) tại Chu Lai (Quảng Nam) mỗi năm sản xuất hàng ngàn bộ khuôn mẫu, chi tiết cơ khí cho ô tô, xe máy, máy nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngành Công nghiệp cơ khí ô tô vẫn đối diện với nhiều thách thức. Tỷ lệ nội địa hóa ô tô đối với xe dưới 9 chỗ mới đạt bình quân từ 7-10% và có cao hơn ở các dòng xe trên 9 chỗ. Tuy nhiên, các linh kiện tinh vi và phức tạp vẫn phải nhập từ nước ngoài. Một trong những rào cản lớn đó là thị trường ô tô trong nước của mỗi hãng còn nhỏ, chưa đủ lớn để các hãng đầu tư mạnh.

Ngành Sản xuất xe máy được xem là thành công nhất về phát triển CNHT tại Việt Nam. Với quy mô thị trường tương đối lớn (3-4 triệu xe tiêu thụ mỗi năm), các doanh nghiệp FDI có mặt từ sớm (Honda, Yamaha, Suzuki…) đã hình thành một mạng lưới hàng trăm nhà cung ứng nội địa cho xe máy. Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước đã có thể sản xuất từ 85%-90% linh kiện xe máy, đáp ứng phần lớn nhu cầu của các hãng. Thậm chí, nhiều linh kiện xe máy sản xuất tại Việt Nam còn được xuất khẩu sang các nhà máy khác trong khu vực. Thành công này có được do các doanh nghiệp lắp ráp FDI đã tích cực “kêu gọi” nhà cung ứng đến Việt Nam và hợp tác với nhà cung ứng nội địa ngay từ những năm 2000. Đơn cử như Công ty Honda Việt Nam, có hơn 100 nhà cung cấp cấp 1, trong đó có không ít doanh nghiệp Việt đã lớn mạnh qua việc tham gia làm CNHT (như Công ty Phụ tùng Máy số 1, Công ty Nhựa Tuấn Thăng…). Mô hình liên kết chặt chẽ với nhà cung ứng nội địa của ngành Xe máy là bài học kinh nghiệm quý giá cho các ngành khác. Nhờ có thị trường ổn định, chính sách hợp tác đúng hướng, các hãng xe máy đạt tỷ lệ nội địa hóa rất cao và tạo dựng được chuỗi cung ứng bản địa vững chắc.

Tuy vậy, ngành Xe máy cũng đang đối mặt với những thách thức mới về CNHT, cụ thể như định hướng của chính phủ Việt Nam, cũng như nhu cầu của người dân chuyển sang xe điện, linh kiện điện tử đòi hỏi các nhà cung ứng truyền thống (vốn quen sản xuất cơ cấu cơ khí như động cơ xăng, hộp số) phải chuyển đổi công nghệ. Chính sách hiện nay đang hỗ trợ các doanh nghiệp này tái đào tạo, tìm đối tác công nghệ để tham gia sản xuất linh kiện xe điện (pin, động cơ điện, bo mạch điều khiển...). Đây sẽ là hướng phát triển mới cho CNHT xe máy tới năm 2035. Với định hướng này, hoạt động chuyển đổi số trong các doanh nghiệp CNHT cần phải được đẩy mạnh để có thể đáp ứng được những thay đổi mang tính xu thế và định hướng dài hạn của chính phủ.

3. Thực trạng cơ chế chính sách hỗ trợ ngành Cơ khí ô tô, xe máy của địa phương

Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập là sự tích hợp của 3 đơn vị hành chính cấp tỉnh cũ, bao gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Do đó, đây là một cách ghép cơ học về mọi yếu tố. Vì chưa có số liệu thống kê công bố cho tỉnh Phú Thọ mới, nên dữ liệu của Phú Thọ mới có thể được dựa trên dữ liệu hợp nhất của cả 3 địa phương nêu trên. Trên cơ sở đó, Phú Thọ mới có số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tính đến tháng 12 năm 2024 là 17.053 doanh nghiệp, trong đó có hơn 22,6% doanh nghiệp hoạt động trong ngành Công nghiệp chế biến chế tạo và khoảng 400 doanh nghiệp là doanh nghiệp CNHT. Trong đó, có 24 doanh nghiệp CNHT đã được cấp giấy xác nhận ưu đãi sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển. Đây là con số còn khiêm tốn so với hơn 400 doanh nghiệp CNHT đang hoạt động trên địa bàn. Nếu chỉ xét doanh nghiệp CNHT ngành Cơ khí ô tô, xe máy có số lượng doanh nghiệp chưa đến 70 đơn vị, trong đó khoảng 50 doanh nghiệp hoạt động tại Vĩnh Phúc. Báo cáo số 289 năm 2025 của Sở Công Thương - tỉnh Phú Thọ cho thấy chủ trương của tỉnh rất rõ ràng: (1) tập trung, ưu tiên phát triển CNHT tạo nền tảng vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; (2) phát triển CNHT gắn với mục tiêu nội địa hóa và tiến tới xuất khẩu; (3) phát huy tối đa năng lực đầu tư của các công ty, tập đoàn đa quốc gia nhằm tranh thủ khả năng về vốn, trình độ công nghệ tiên tiến; (4) tập trung phát triển ngành CNHT sản xuất, lắp ráp ô tô; và CNHT điện tử và tin học. Với sự hiện diện của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đa quốc gia hàng đầu, tỉnh đã trở thành trung tâm công nghiệp sản xuất ô tô, xe máy của khu vực. Các doanh nghiệp toàn cầu đang hoạt động trên địa bàn bao gồm: Công ty Toyota Việt Nam, Công ty Honda Việt Nam, Công ty Deawoo Bus, Công ty Piaggio và Polaris.

Tỉnh Vĩnh Phúc cũ, nay là thủ phủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ, nơi tập trung hầu hết các doanh nghiệp CNHT của tỉnh và cũng là nơi hội tụ của nhiều doanh nghiệp công nghiệp cơ khí lớn quy mô toàn cầu, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ô tô, xe máy. Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2023-2024, lượng linh phụ kiện xuất khẩu và nhập khẩu liên quan đến ô tô và xe máy có sự sụt giảm mạnh (Hình 1). Có nhiều lý giải cho hiện tượng này, một trong số đó chính là sự sụt giảm cầu thị trường và dịch chuyển đơn hàng. Những vấn đề này được nhận diện qua những lý do, doanh nghiệp “đầu tàu” tăng nhập linh kiện từ các doanh nghiệp ngoại tỉnh hoặc tự sản xuất. Hiện tượng này cho thấy, năng lực của đa phần doanh nghiệp CNHT tại địa phương chưa đủ mạnh để cạnh tranh về giá, chất lượng, thời gian và số lượng với những đơn vị khác. Một phần nguyên nhân đến từ quy mô sản xuất nhỏ. Thanh Nga (2024) cho biết, có tới hơn 80% doanh nghiệp CNHT là doanh nghiệp siêu nhỏ với quy mô lao động ít hơn 50 người. Số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất linh kiện ô tô, xe máy trên địa bàn còn có quy mô nhỏ chưa phong phú về chủng loại và sản lượng thấp; công nghệ sử dụng còn hạn chế; đầu tư vào nghiên cứu và phát triển còn rất thấp; và hoạt động số hóa, chuyển đổi số trong doanh nghiệp còn manh mún, thiếu hệ thống. Hệ quả của những điểm yếu này đó là doanh nghiệp quản trị theo truyền thống, chưa có hệ thống quản trị tích hợp để tối ưu hóa sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, nhân lực số một là không cần thiết, nếu có nhân lực số thì kỹ năng và kiến thức cũng không thể phát huy, dẫn đến lãng phí tài nguyên. Khi mọi thứ thiếu sự tích hợp và quản lý khoa học, việc thay đổi để đáp ứng với yêu cầu mới của thị trường sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn, làm giảm năng lực cạnh tranh và khả năng sẵn sàng đáp ứng yêu cầu.

Khuyến nghị chính sách hỗ trợ tăng cường năng lực công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số cho doanh nghiệp FDI lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ô tô, xe máy tại Phú Thọ
Hình 1 : Tổng giá trị xuất nhập khẩu linh phụ kiện ô tô, xe máy của Phú Thọ (gồm số  liệu của 3 tỉnh sáp nhập là Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Thọ) giai đoạn 2020-2024 (Nguồn: Niên giám thống kê, 2025)

Biểu đồ Hình 1 cho thấy tình hình xuất khẩu linh phụ kiện ô tô, xe máy của Phú Thọ mới (dữ liệu tổng hợp cơ học từ 3 địa phương Vĩnh Phúc, Phú Thọ, và Hòa Bình) có xu hướng đi lên cho toàn giai đoạn 2020-2024 thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước ngày càng được thị trường quốc tế chấp nhận. Xu hướng nhập khẩu giảm sau năm 2022 thể hiện năng lực nội địa hóa linh phụ kiện ô tô, xe máy đã có tiến triển tốt hơn. Các kết quả đạt được có thể liên hệ tới chính sách của Trung ương và địa phương trong việc nâng cao năng lực của ngành CNHT tại Phú Thọ.

Trong hơn 3 thập kỷ qua, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xác định CNHT là lĩnh vực trọng tâm, đã rất chú trọng công tác thu hút doanh nghiệp toàn cầu đến đầu tư tại Việt Nam. Chính sách này đã phát huy tác dụng, thu hút nhiều doanh nghiệp uy tín toàn cầu đến đầu tư và hình thành mạng lưới doanh nghiệp CNHT. Mặc dù mạng lưới này còn lỏng lẻo, rời rạc, nhưng không phủ nhận được sự tiến bộ cũng như sự đóng góp lớn vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trước khi sáp nhập, tỉnh Vĩnh Phúc cũ đã có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp CNHT như sau:

  • Nghị quyết số 57/2016/NQ-HĐND ban hành ngày 12/12/2016 của HĐND tỉnh về một số biện pháp đặc thù thu hút đầu tư và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó ưu đãi về đất đai và hạ tầng là một chính sách Tỉnh hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) để tạo quỹ đất “sạch” cho dự án CNHT. Cụ thể, ngân sách tỉnh chi hỗ trợ đến 15% chi phí bồi thường GPMB đối với dự án trọng điểm. Vĩnh Phúc cũng bố trí vốn xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào, làm đường giao thông tới chân hàng rào các khu, cụm công nghiệp phục vụ dự án đầu tư CNHT.
  • Thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi thuế của Trung ương dành cho ngành CNHT. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2021/NĐ-CP về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho dự án sản xuất sản phẩm CNHT, tỉnh đã nhanh chóng triển khai, tạo điều kiện để doanh nghiệp CNHT được áp dụng mức thuế TNDN ưu đãi cao nhất cho thu nhập từ dự án CNHT.
  • Vĩnh Phúc hỗ trợ doanh nghiệp chi phí quảng bá các dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư (trong đó có CNHT) được tỉnh hỗ trợ chi phí quảng cáo trên phương tiện truyền thông của tỉnh. Chính sách tài chính này giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng chi phí, tăng khả năng cạnh tranh trong giai đoạn đầu tư.
  • Để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất linh kiện phụ tùng, địa phương cũng hỗ trợ 50% lãi suất vay vốn trong 3 năm cho dự án đầu tư mới hoặc mở rộng từ 20% quy mô trở lên trong các ngành CNHT trọng điểm (điện tử, phụ tùng ô tô, cơ khí chế tạo, công nghiệp công nghệ cao), tối đa 1 tỷ đồng/doanh nghiệp. Chính sách này (theo Quyết định số 39/2017/QĐ-UBND và sau này sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND) giảm bớt chi phí vốn vay, khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.
  • Ưu tiên nâng cao năng lực kỹ thuật cho doanh nghiệp CNHT thông qua nhiều hỗ trợ thiết thực. Doanh nghiệp CNHT được hỗ trợ 50% chi phí đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến, mức hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng/doanh nghiệp. Song song đó, tỉnh khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tiêu chuẩn quản trị: hỗ trợ 100% chi phí xây dựng và đạt chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng (ISO và tương đương), tối đa 300 triệu đồng/hệ thống. Tỉnh cũng hỗ trợ 100% chi phí đánh giá và cấp chứng nhận doanh nghiệp CNHT áp dụng công nghệ cao, tối đa 200 triệu đồng/doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp CNHT được hỗ trợ 75% chi phí tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mua bản quyền sáng chế, phần mềm hoặc thuê chuyên gia nước ngoài, tối đa 500 triệu đồng/doanh nghiệp. Các chính sách này tạo động lực cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm đạt chuẩn quốc tế.
  • Tỉnh đã triển khai Đề án Khuyến khích phát triển công nghiệp giai đoạn 2017-2025, trong đó chú trọng hỗ trợ các ngành CNHT chủ lực như cơ khí, ô tô xe máy, điện tử... Gần đây, UBND tỉnh ban hành Chương trình Phát triển CNHT giai đoạn 2021-2025 (Quyết định số 3663/QĐ-UBND ngày 31/12/2021) với tổng kinh phí gần 95 tỷ đồng. Chương trình này nhằm kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung ứng cho khách hàng trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư vào lĩnh vực CNHT; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý sản xuất, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ. Mục tiêu đến năm 2025, tỉnh có trên 50 doanh nghiệp linh kiện phụ tùng đủ điều kiện thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các hãng ô tô, xe máy, điện tử lớn, và ít nhất 10 doanh nghiệp nội địa đạt tiêu chuẩn quốc tế tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Việc bố trí ngân sách đáng kể cho chương trình cho thấy quyết tâm của tỉnh trong việc phát triển mạng lưới CNHT bền vững.
  • Nhằm nâng cao tay nghề cho lao động CNHT, Vĩnh Phúc cũ đã có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp 50% chi phí đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động trực tiếp, với mức hỗ trợ tối đa 500.000 đồng/người/khóa học. Đối với nhu cầu nhân sự chất lượng cao, tỉnh hỗ trợ doanh nghiệp 50% chi phí thuê chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài, tối đa 20 triệu đồng/người/tháng trong thời gian tối đa 2 năm. Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu ngành CNHT. Những chính sách này giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán thiếu lao động kỹ thuật, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực có kỹ năng đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại.
  • Tỉnh đã rất chú trọng tạo cầu nối giữa doanh nghiệp CNHT địa phương với các nhà sản xuất lớn. Tỉnh hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm CNHT: mức hỗ trợ 80% chi phí gian hàng, chi phí tham gia, tối đa 300 triệu đồng/doanh nghiệp. Đặc biệt, theo Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND, tỉnh hỗ trợ 70% chi phí tổ chức hội thảo xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực CNHT, cũng như 70% chi phí tổ chức hội chợ triển lãm kết nối CNHT. Nhiều hoạt động kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong tỉnh đã được triển khai: Vĩnh Phúc phối hợp với dự án USAID LinkSME để nâng cao khả năng kết nối cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức nghiên cứu chuyên đề về liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp FDI. Tỉnh cũng thường xuyên tổ chức hội chợ công nghiệp hỗ trợ, chương trình kết nối cung - cầu, mời các hãng lớn (Honda, Toyota, Samsung…) gặp gỡ các nhà cung ứng địa phương.

Báo cáo số 61/BC-UBND ban hành ngày 16/3/2023 về Tổng hợp báo cáo kết quả việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị sau giám sát cho thấy các cơ chế hỗ trợ của tỉnh chưa phát huy hiệu quả cho lĩnh vực CNHT. Một số cơ chế ban hành ra nhưng không được doanh nghiệp CNHT trong danh mục ưu tiên hưởng ứng. Như vậy, cơ chế thực thi các hỗ trợ này còn thiếu sự trợ giúp thông tin, cũng như chưa phù hợp với điều kiện hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, các chính sách đã được ban hành nhằm hướng đến việc hỗ trợ doanh nghiệp CNHT nói chung trong đó ưu tiên cho một số ngành lĩnh vực như CNHT ô tô để tạo ra những chuyển biến. Tuy nhiên, với cách hỗ trợ mang tính cào bằng, không đi vào công nghệ lõi và xu hướng phát triển của công nghệ tương lai, kết quả của những hỗ trợ này chỉ mang tính cải thiện mà không tạo được đà tăng nhày vọt cho các doanh nghiệp CNHT có tiềm năng. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, trong đó việc ứng dụng AI, Robot, điện toán đám mây, dữ liệu lớn được sử dụng ngày một nhiều giúp tăng năng suất lao động, ổn định và tăng chất lượng sản phẩm, việc thiếu sự nghiên cứu lộ trình hỗ trợ và tiếp sức cho doanh nghiệp trưởng thành về công nghệ số, bắt nhịp với xu thế, sẽ không giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong tương lai.

4. Kết luận và khuyến nghị cho Phú Thọ trong xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô, xe máy

Phú Thọ có nhiều đặc điểm thuận lợi để phát triển ngành CNHT, đặc biệt CNHT ô tô và xe máy. Trong bối cảnh quốc gia đang đẩy mạnh chuyển đổi số, khuyến khích phát triển và đưa vào sử dụng xe điện, xe hybrid, tỉnh cần có những hành động chuyển đổi nhanh chóng để đáp ứng các chính sách của Trung ương và thỏa mãn nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

Từ kinh nghiệm triển khai chính sách CNHT cấp Trung ương và kết quả tại các địa phương, có thể rút ra một số bài học quan trọng tỉnh Phú Thọ có thể vận dụng để thúc đẩy CNHT ô tô, xe máy trên toàn địa bàn tỉnh. Một số hoạt động cần thực hiện nhanh chóng bao gồm:

  • Thứ nhất, Phú Thọ nên sớm xây dựng Đề án Phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2025-2035, phù hợp với quy hoạch công nghiệp của tỉnh. Trong đó, tỉnh cần phổ biến sâu rộng các chính sách CNHT của Trung ương đến doanh nghiệp (về ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng, đào tạo…). Tỉnh cần tập trung nhiều nhất vào xây dựng nội dụng hỗ trợ chuyển đổi số cụ thể cho ngành CNHT cơ khí ô tô, xe máy. Thêm vào đó, cần nghiên cứu đề xuất với Trung ương để có cơ chế hỗ trợ có lộ trình và dài hạn, nhằm đảm bảo doanh nghiệp có thể vững vàng đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong tương lai.
  • Thứ hai, Phú Thọ cần cân nhắc xây dựng cơ chế phối hợp chuyên gia để thành lập nhóm chuyên gia liên ngành để đánh giá làm cơ sở hỗ trợ doanh nghiệp làm thủ tục hưởng ưu đãi (đặc biệt khi NĐ 205 đã phân cấp cho tỉnh cấp giấy chứng nhận ưu đãi CNHT). Một bộ phận chuyên trách (thuộc Sở Công Thương hoặc Trung tâm Khuyến công của tỉnh) nên được giao làm đầu mối hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ, qua đó tăng số dự án CNHT tại Phú Thọ đủ điều kiện nhận ưu đãi. Đây là bước quan trọng để đưa chính sách thành hiện thực, giúp ích cho doanh nghiệp.
  • Thứ ba, phát triển doanh nghiệp CNHT gắn với doanh nghiệp “đầu tàu”: Thực tiễn cho thấy CNHT chỉ phát triển mạnh khi có các doanh nghiệp đầu ngành dẫn dắt và mạng lưới liên kết chặt chẽ. Tỉnh có thể đưa chương trình kết nối giữa doanh nghiệp CNHT của Phú Thọ với Toyota, Honda; mời gọi các nhà cung cấp cấp 1, 2 của Toyota, Honda đầu tư mở rộng nhà máy sang Phú Thọ.
  • Thứ tư, tỉnh cần tập trung vào các lĩnh vực CNHT lợi thế, như CNHT cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy như sản xuất nam châm, pin, mạch điện tử điều khiển cho động cơ điện. Bên cạnh đó, Phú Thọ có truyền thống về sản xuất hóa chất, cao su có thể định hướng phát triển CNHT nhựa - cao su kỹ thuật (gioăng cao su, ống dẫn, vỏ nhựa linh kiện). Việc chọn đúng nhóm ngành lợi thế sẽ giúp tỉnh tạo cụm CNHT chuyên môn hóa, doanh nghiệp dễ liên kết và chia sẻ nguồn lực, lao động. Tỉnh cần đặt hàng nghiên cứu, chuyển giao những công nghệ lõi, ứng dụng công nghệ số cho những ngành lĩnh vực này và xây dựng cơ chế thu hút nhân lực, cũng như đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ để có thể vận hành, phát triển các công nghệ mới giúp tăng tính tích hợp, tính hệ thống và tăng năng suất, tạo ra sản phẩm, công nghệ mới đáp ứng nhu cầu cũng nhu xu hướng thị trường.
  • Thứ năm, tỉnh có thể xây dựng các chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương bằng cách đặt hàng các trường cao đẳng nghề, trung cấp kỹ thuật trên địa bàn mở các chuyên ngành cơ khí chính xác, điện - điện tử, kỹ thuật ô tô, CNTT gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Liên kết đào tạo với các hãng lớn như Toyota, Honda (thông qua chương trình thực tập sinh tại nhà máy của họ) sẽ giúp sinh viên nghề của tỉnh nâng cao tay nghề, khi tốt nghiệp có thể làm việc ngay cho doanh nghiệp CNHT. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng các trường, các đại học, viện nghiên cứu, mạng lưới Tư vấn viên của Bộ Công Thương để đưa ra các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất và điều hành doanh nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Sở Công Thương Phú Thọ (2025). Báo cáo số 289/BC-SCT về Các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển công nghiệp hỗ trợ và xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định nội dung và mức chi cụ thể các hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW, ban hành ngày 22/12/2024 về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Tổng cục Thống kê (2025), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024.

Tổng cục Thống kê (2025), Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2024.

Tổng cục Thống kê (2025), Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2024.

Thanh Nga (2024). Phát triển công nghiệp hỗ trợ cần thêm “cú hích”. Truy cập tại https://vinhphuc.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/KinhTe/View_Detail.aspx?ItemID=12105

 

Ngày nhận bài: 12/10/2025

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/10/2025

Ngày chấp nhận đăng bài: 14/11/2025

 

Policy measures to strengthen information technology capabilities for digital transformation in FDI enterprises in the automotive and motorcycle engineering sector of Phu Tho province

Vu Tuan Anh1

Dao Tien Cong2

1National Economics University

2Phu Tho Province Department of Industry and Trade

Abstract:

Following the administrative merger, Phu Tho province possesses significant advantages for the development of supporting industries, particularly in the automotive and motorcycle mechanical sectors. Formerly Vinh Phuc province, the locality has, over the past three decades, successfully attracted major global corporations such as Toyota, Honda, Piaggio, and Polaris, thereby laying a solid industrial foundation. This study examines central and local government policies aimed at fostering the supporting industry ecosystem, while assessing key achievements and persistent limitations among automotive and motorcycle supporting enterprises in the province. In the context of accelerated digital transformation, the analysis further identifies notable deficiencies in the information technology capabilities of the local workforce and enterprises. By highlighting these structural and technological challenges, the study provides an evidence-based assessment of current conditions and policy effectiveness in supporting industry development in Phu Tho province.

Keywords: mechanical engineering, automobiles, motorcycles, supporting industries, mergers, Phu Tho province.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 33 năm 2025]