Tóm tắt:

Bài viết tập trung đánh giá thực trạng phát triển nguồn lực con người phục vụ chuyển đổi số trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Phú Thọ, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách nhằm nâng cao năng lực lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù Phú Thọ có lực lượng lao động kỹ thuật tương đối dồi dào, song vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa kỹ năng hiện có của người lao động và yêu cầu của quá trình chuyển đổi số, đặc biệt trong các lĩnh vực tự động hóa, số hóa quy trình sản xuất và quản trị công nghiệp thông minh. Bên cạnh đó, năng lực quản trị chuyển đổi số của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế; các chính sách phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi số vẫn còn phân tán, thiếu liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm chính sách trọng tâm theo hướng đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, tăng cường liên kết công - tư và hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy chuyển đổi số bền vững trong ngành Công nghiệp hỗ trợ của tỉnh Phú Thọ.

Từ khóa: chuyển đổi số, công nghiệp hỗ trợ, nguồn lực con người, chính sách công nghiệp, đào tạo kỹ năng số.

  1. Đặt vấn đề

Tỉnh Phú Thọ (mới), với không gian phát triển mở rộng bao gồm khu vực Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình cũ. Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) được định hướng trở thành một cực tăng trưởng quan trọng ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, đóng vai trò cầu nối giữa vùng Thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc (Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội). Khu vực này hội tụ nhiều lợi thế chiến lược về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông liên vùng, nguồn nhân lực kỹ thuật và nền tảng công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực cơ khí chế tạo, ô tô - xe máy và công nghiệp hỗ trợ. Việc mở rộng không gian phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho tái cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong cấu trúc phát triển chung của tỉnh, khu vực Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bình Yên giữ vai trò là trung tâm công nghiệp động lực với sự hiện diện của nhiều tập đoàn sản xuất lớn, mạng lưới khu công nghiệp tập trung và hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tương đối phát triển. Trong khi đó, tỉnh Phú Thọ có lợi thế về quỹ đất công nghiệp, nguồn lao động và tiềm năng phát triển công nghiệp công nghệ cao gắn với logistics, dịch vụ hỗ trợ và đào tạo nguồn nhân lực. Sự kết hợp này tạo ra dư địa lớn để hình thành các chuỗi giá trị công nghiệp liên vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc gia và toàn cầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc phát triển đồng bộ nguồn lực con người, hạ tầng số và cơ chế chính sách liên kết vùng được xem là yếu tố then chốt, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao chất lượng phát triển công nghiệp của tỉnh Phú Thọ.

Khu vực Vĩnh Yên, Phúc Yên và Bình Xuyên đã và đang là một trong những trung tâm công nghiệp trọng điểm của miền Bắc Việt Nam, đặc biệt nổi bật trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cho các ngành cơ khí, ô tô, xe máy và linh kiện điện tử. Các địa phương này sở hữu hệ sinh thái sản xuất đa tầng với sự hiện diện của nhiều tập đoàn FDI lớn như Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Compal Electronics, BHFlex Vina, Arcadyan, DKT Vina, Cosmos Technology và VPIC1. Những doanh nghiệp này vừa đóng vai trò hạt nhân sản xuất, vừa là “đầu kéo” lan tỏa công nghệ, tiêu chuẩn quản lý và yêu cầu kỹ thuật cao tới các doanh nghiệp vệ tinh trong tỉnh. Các hãng ô tô - xe máy thường áp dụng tiêu chuẩn sản xuất khắt khe như ISO/TS16949, JIS, sản xuất tinh gọn,… Điều này buộc các doanh nghiệp CNHT địa phương phải liên tục nâng cấp năng lực quản trị và công nghệ, trong đó chuyển đổi số (CĐS) trở thành yếu tố then chốt để duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

Chính quyền hiện tại cũng đã sớm nhận diện vai trò của CNHT và CĐS thông qua Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2021-2025 như đã nêu trong Quyết định số 3663/QĐ-UBND, hướng tới nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị sản phẩm và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình hiện nay cho thấy, các doanh nghiệp CNHT của địa phương đa phần có quy mô siêu nhỏ, cơ cấu nhân lực hiện nay được cho là mạnh về cơ khí và yếu về số. Lao động cơ khí truyền thống chiếm tỷ trọng cao và tập trung vào các khâu gia công, khuôn mẫu và lắp ráp. Bản thân các doanh nghiệp cơ khí này có hệ thống rời rạc nên mất rất nhiều công sức đầu tư để có thể tích hợp số để các bộ phận phối hợp hoạt động nhịp nhàng. Trong quá trình chuyển đổi số, hầu hết các doanh nghiệp này đều thiếu nhân lực, do đó phần lớn doanh nghiệp không có bộ phận chuyển đổi số chuyên trách. Với những thực tại như vậy, việc thực hiện chuyển đổi số trong doanh nghiệp cần cân nhắc thật kỹ, đặc biệt cần cân nhắc quy mô và sự ổn định của đơn hàng. Từ đó, việc thực hiện chuyển đổi số mới thực sự có hiệu quả cả về đầu tư và thu hút, cũng như gìn giữ được nhân lực số chất lượng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cả nước chuyển đổi số mạnh mẽ, việc nâng cao năng lực số cho toàn thể người lao động cần được quan tâm, đặc biệt là nhân lực quản lý cấp trung. Trên cơ sở đó, tỉnh đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược về CĐS với Tập đoàn FPT đến năm 2030, nhằm xây dựng nền kinh tế số, chính quyền số và xã hội số, trong đó khu vực sản xuất chế biến - chế tạo là trọng tâm.

Tuy nhiên, để tận dụng tốt các cơ hội từ CĐS, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở công nghệ hay vốn đầu tư, mà còn ở nguồn nhân lực được trang bị đầy đủ kỹ năng số và năng lực tích hợp công nghệ. Những kỹ năng trọng yếu gồm: vận hành và tích hợp hệ thống IT-OT, lập trình và tối ưu PLC, sử dụng hệ thống MES/WMS, khai thác phân tích dữ liệu sản xuất (data analytics), an ninh mạng công nghiệp và quản lý dự án CĐS. Thực tế tại nhiều doanh nghiệp trong tỉnh cho thấy, khoảng cách kỹ năng này là một “nút thắt cổ chai” khiến việc triển khai nhà máy thông minh (smart factory), IoT công nghiệp và phân tích dữ liệu nâng cao diễn ra chậm hơn so với kỳ vọng.

Khi so sánh với các địa phương công nghiệp phát triển khác, sự thiếu hụt này càng bộc lộ rõ. Bắc Ninh và Thái Nguyên đã hình thành mạng lưới đào tạo kỹ năng số gắn với Samsung, Canon và các doanh nghiệp điện tử lớn, với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các trung tâm R&D và trường nghề hợp tác FDI. Bình Dương đã và đang triển khai mô hình “Trung tâm điều hành thông minh” và Khu công nghiệp thông minh, tích hợp đào tạo nguồn nhân lực CĐS ngay tại các cụm công nghiệp. Trong khi đó, khu vực Vĩnh Phúc cũ dù có nền tảng CNHT mạnh trong cơ khí - ô tô/xe máy, nhưng hạ tầng đào tạo kỹ năng số chuyên sâu cho sản xuất vẫn ở giai đoạn đầu, chưa có hệ thống chuẩn kỹ năng nghề số hóa cho ngành chế tạo.

Xuất phát từ thực tiễn, nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng phát triển nguồn lực con người cho chuyển đổi số ngành công nghiệp hỗ trợ (ngành cơ khí - ô tô/xe máy) tại khu vực Vĩnh Phúc (cũ), trong không gian phát triển mới của tỉnh Phú Thọ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng và giải pháp chính sách nhằm nâng cao năng lực lao động, tăng cường liên kết công - tư và thúc đẩy chuyển đổi số bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển công nghiệp hỗ trợ của địa phương trong giai đoạn tới.

  1. Đánh giá thực trạng chính sách và nguồn lực nhân lực

Chính sách hiện hành của tỉnh hỗ trợ CNHT thông qua các khoản hỗ trợ đào tạo, R&D và chứng nhận, song điểm yếu lớn là thiếu chương trình đào tạo chuyên sâu cho năng lực tích hợp công nghệ số trong sản xuất. Các chương trình đào tạo truyền thống như T-TEP của Toyota tập trung nhiều vào kỹ năng sửa chữa và cơ khí cơ bản; trong khi nhu cầu hiện nay đòi hỏi năng lực hội tụ IT-OT: lập trình PLC, cấu hình HMI/SCADA, tích hợp MES, quản lý dữ liệu sản xuất và an ninh OT.

Quy mô đào tạo hiện tại không đáp ứng yêu cầu của hàng trăm SMEs trong tỉnh. Hầu hết doanh nghiệp SME thiếu nhân lực có thể triển khai và giám sát các dự án CĐS: thiếu cả kỹ thuật viên PLC có kinh nghiệm và quản lý dự án CĐS (Digital Project Manager). Thực tế này dẫn đến tình trạng: các dự án số ở quy mô nhỏ thường dừng ở giai đoạn pilot, hoặc triển khai không hiệu quả do thiếu nhân lực vận hành và duy trì.

Mặt khác, cơ chế tài chính cho đào tạo kỹ thuật số còn hạn chế. Mặc dù Quyết định số 3663/QĐ‑UBND có nguồn hỗ trợ đào tạo, song học phí đào tạo còn cao, không có trợ cấp lương cho học viên trong giai đoạn thực hành và thực tập trong đào tạo, hay ưu đãi thuế rõ ràng để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo kỹ thuật số. Thủ tục xin hỗ trợ chưa được đơn giản hóa, khiến SME khó tiếp cận.

Về liên kết, có những hợp tác bước đầu với doanh nghiệp lớn và nhà cung cấp công nghệ (ví dụ FPT, VNPT) nhưng chưa có cơ chế hoạt động liên tục như một “Doanh nghiệp-Nhà Khoa học - Nhà nước” chính thức tại tỉnh để chuẩn hóa chương trình, định chuẩn chứng chỉ nghề và nối cầu thực tập, tuyển dụng liên tục.

Mặc dù chính quyền khu vực Vĩnh Phúc cũ đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực, nhưng việc triển khai thực tế trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ô tô, xe máy vẫn còn gặp không ít hạn chế. Trước hết, phần lớn doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu đội ngũ nhân sự am hiểu công nghệ số, quản trị dữ liệu và kỹ năng vận hành các hệ thống sản xuất thông minh. Nhiều công nhân kỹ thuật vẫn được đào tạo theo phương pháp truyền thống, chưa thành thạo các nền tảng như MES, ERP hay IoT. Chẳng hạn, tại một số doanh nghiệp cơ khí gia công chi tiết máy quy mô dưới 200 lao động, nhân viên vẫn nhập dữ liệu sản xuất thủ công trên Excel, trong khi ở các tỉnh như Bắc Ninh hay Hải Phòng, nhiều nhà máy cùng phân khúc đã áp dụng MES để giám sát thời gian thực.

Ngoài ra, cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và chính quyền địa phương chưa thật sự hiệu quả. Một số tập đoàn FDI lớn như Toyota Việt Nam hay VPIC1 có chương trình đào tạo kỹ sư và công nhân rất bài bản (ví dụ, Toyota hợp tác với các trường nghề để đào tạo theo chuẩn TPS - Toyota Production System), nhưng các mô hình này chủ yếu phục vụ nội bộ, chưa được chia sẻ hay nhân rộng sang các doanh nghiệp vệ tinh. Trong khi đó, ở Đồng Nai hay Bình Dương, các chương trình đào tạo nội bộ của doanh nghiệp FDI thường được triển khai dưới dạng “đào tạo mở” cho cả đối tác cung ứng.

Khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số từ nhà nước của nhiều doanh nghiệp tại khu vực Vĩnh Phúc cũ cũng bị hạn chế. Một phần do thủ tục hành chính còn phức tạp, một phần vì thông tin chưa được truyền đạt đồng đều. Ví dụ, chương trình “SME DX” do Bộ Công Thương triển khai, hỗ trợ chi phí phần mềm quản trị cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã được nhiều doanh nghiệp tại Bắc Ninh tham gia, nhưng ở khu vực Vĩnh Phúc cũ số lượng đăng ký rất hạn chế do thiếu kênh thông tin.

Bên cạnh đó, khoảng cách năng lực số giữa các doanh nghiệp trong tỉnh đang ngày càng lớn. Những doanh nghiệp FDI như BHFlex Vina (ứng dụng quản trị sản xuất tích hợp IoT trong ngành linh kiện điện tử) hay Compal (sử dụng hệ thống ERP và tự động hóa dây chuyền) đạt mức độ số hóa cao, trong khi nhiều doanh nghiệp nội địa vẫn ở giai đoạn khởi đầu, chủ yếu số hóa một phần quy trình văn phòng mà chưa chạm đến khâu sản xuất. So với các cụm công nghiệp hỗ trợ ở Hải Phòng, nơi chính quyền định hướng rõ ràng về “lộ trình nhân lực số” và tổ chức các khóa đào tạo theo từng cấp độ kỹ năng, tỉnh Phú Thọ vẫn thiếu chiến lược dài hạn đồng bộ để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn ngành.

Nhìn chung, các doanh nghiệp tiêu biểu tại khu vực Việt Trì, Vĩnh Yên, Bình Xuyên, Phúc Xuyên đã đạt những bước tiến quan trọng trong CĐS và đào tạo nhân lực số. Tuy nhiên, mức độ tích hợp công nghệ tiên tiến vẫn chưa đồng đều và chưa đạt mức “nhà máy thông minh” toàn diện như ở một số địa phương dẫn đầu (Bắc Ninh, Bình Dương). Điểm mạnh của Phú Thọ là sự gắn kết giữa chính quyền và doanh nghiệp; điểm yếu là thiếu hạ tầng đào tạo IT-OT tập trung và chưa phổ biến các kỹ năng nâng cao về phân tích dữ liệu và bảo trì thông minh.

Nhìn nhận từ thực tế triển khai đào tạo nhân lực CĐS, có thể nhận thấy hiện tại vẫn có một số khoảng trống chính: (i) thiếu nhân lực IT-OT (PLC, SCADA, MES integrator, phân tích dữ liệu cho sản xuất); (ii) thiếu quản lý dự án chuyển đổi số và thay đổi quan lý trong DN; (iii) hạn chế chi phí đầu tư cho đào tạo và trang thiết bị lab ở trường nghề; (iv) thiếu chuẩn chứng chỉ nghề và công nhận năng lực Sản xuất số; (v) thiếu cơ chế kết nối liên tục giữa trường nghề, doanh nghiệp lớn và SMEs. Những thách thức này vừa mang tính cấu trúc (cần chính sách) vừa mang tính vận hành (doanh nghiệp cần giải pháp ngắn hạn).

  1. Đề xuất chính sách phát triển nguồn lực con người cho chuyển đổi số trong công nghiệp hỗ trợ cơ khí - ô tô, xe máy tại Phú Thọ

Để giải quyết các khoảng trống đã nêu, cần triển khai một bộ chính sách đồng bộ vừa tạo tác động ngắn hạn, vừa xây dựng nền tảng bền vững cho trung và dài hạn. Một hướng đi then chốt là mở rộng mô hình Toyota Technical Education Program (T-TEP) thành T-TEP Digital Manufacturing, hợp tác giữa Toyota, Sở Giáo dục và Đào tạo và các trường cao đẳng/nghề tại Phú Thọ. Chương trình cần bổ sung các module về PLC, MES, IoT và phân tích dữ liệu, đồng thời trang bị phòng lab mô phỏng nhà máy thông minh. Mục tiêu là đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên hội tụ IT-OT, đạt công suất 300-500 người/năm sau 2026. Mô hình này đã được Toyota áp dụng thành công tại Thái Lan và Philippines, cho thấy khả năng thích ứng cao với ngành Cơ khí - Ô tô.

Song song đó, cần triển khai Digital Skills Voucher với mức hỗ trợ 50-150 triệu đồng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) để đăng ký khóa đào tạo nâng cao kỹ năng hoặc thuê tư vấn triển khai thí điểm hệ thống WMS/MES. Quy trình xét duyệt nên được thiết kế đơn giản, yêu cầu một bản đề xuất ngắn và phê duyệt nhanh, giải ngân theo từng mốc hoàn thành để giảm gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp. Tại Hàn Quốc, chương trình tương tự đã giúp hơn 1.200 SMEs bước đầu áp dụng hệ thống ERP và IoT với chi phí tối ưu.

Một chính sách khác là thúc đẩy chương trình đào tạo kép (dual-training) và học nghề (apprenticeship), kết hợp 3-6 tháng học lý thuyết và 3-6 tháng thực hành tại doanh nghiệp. Tỉnh có thể hỗ trợ một phần lương thực tập từ quỹ phát triển nguồn nhân lực, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuyển dụng và tăng tỷ lệ giữ chân nhân sự sau đào tạo. Mô hình này đã được VPIC1 áp dụng khi phối hợp với các trường nghề để đào tạo công nhân vận hành dây chuyền CNC và hệ thống tự động hóa.

Để chuẩn hóa năng lực, cần thành lập Hội đồng Công-Thương-Giáo dục gồm Sở Công Thương, Hiệp hội Doanh nghiệp, các trường nghề, cùng các tập đoàn công nghệ như FPT và Toyota. Hội đồng sẽ ban hành chuẩn kỹ năng Digital Manufacturing Technician (cấp độ 1-3) và phê duyệt khung chương trình giảng dạy, tạo sự đồng nhất giữa đào tạo và yêu cầu thực tế.

Ngoài ra, nên đẩy mạnh chương trình đào tạo giảng viên (train-the-trainer) thông qua hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ như FPT, VNPT hoặc ITG. Giai đoạn đầu có thể đào tạo 50 giảng viên cốt cán, sau đó nhân rộng ra các cơ sở đào tạo khác. BHFlex Vina có thể là một điểm thực hành mẫu, khi họ đang áp dụng hệ thống quản trị sản xuất kết hợp IoT và đã xây dựng đội ngũ nội bộ để huấn luyện công nhân.

Một giải pháp quan trọng khác là hỗ trợ vị trí “thiết kế số” trong doanh nghiệp. Đây là nhân sự phụ trách quản lý dự án chuyển đổi số, có năng lực kết nối giữa các phòng ban. Tỉnh có thể trợ cấp lương 6-12 tháng cho doanh nghiệp khi tuyển mới vị trí này, kèm yêu cầu cam kết triển khai ít nhất một dự án thí điểm trong 12 tháng. Mô hình này đã chứng minh hiệu quả trong các khu công nghiệp ở Malaysia khi giúp SMEs duy trì tiến độ chuyển đổi số.

Cuối cùng, cần áp dụng ưu đãi thuế và hoàn chi phí đào tạo. Doanh nghiệp nên được giảm hoặc hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chi phí hợp lệ liên quan đến đào tạo kỹ năng IT-OT và đầu tư thiết bị phòng lab. Chính sách tương tự ở Bình Dương và Bắc Ninh đã thúc đẩy hàng loạt doanh nghiệp cơ khí đầu tư hệ thống đo kiểm 3D, robot và MES để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

  1. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu cho thấy phát triển nguồn lực con người cho chuyển đổi số là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả chuyển đổi số công nghiệp hỗ trợ ngành Cơ khí ô tô và xe máy và linh kiện điện tử tại tỉnh Phú Thọ, trong đó khu vực Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bình Xuyên giữ vai trò trung tâm công nghiệp động lực. Mặc dù có nền tảng sản xuất và lực lượng lao động kỹ thuật tương đối dồi dào, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại khu vực này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về kỹ năng số, năng lực làm chủ công nghệ và năng lực quản trị chuyển đổi số, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, các chính sách phát triển nguồn lực con người và chuyển đổi số hiện nay còn thiếu tính đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết kiến nghị một số giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, cần ưu tiên triển khai các chương trình đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng công nghệ cho người lao động trong ngành công nghiệp hỗ trợ theo hình thức đào tạo đặt hàng, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Thứ hai, tăng cường cơ chế liên kết công - tư giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và chính quyền địa phương nhằm hình thành hệ sinh thái phát triển nguồn lực con người phục vụ chuyển đổi số. Thứ ba, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo và đổi mới công nghệ. Thứ tư, chuẩn hóa chứng chỉ nghề, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Công nghiệp hỗ trợ tỉnh Phú Thọ. Cuối cùng, Tỉnh cần yêu cầu các công ty FDI nghiêm túc thực hiện các cam kết về nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp địa phương thông qua các chương trình đào tạo cho nhà cung ứng và nhà cung ứng tiềm năng tại địa phương.

Tài liệu tham khảo:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Sở Công Thương Vĩnh Phúc (2021). Quyết định số 3663/QĐ‑UBND (2021–2025) - Chương trình phát triển CNHT tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021-2025.

Bộ Công Thương (2022). Báo cáo Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2021), Chiến lược Phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030. FPT (2024). FPT ký thỏa thuận hợp tác chuyển đổi số với Vĩnh Phúc đến năm 2030. https://fpt.com/vi/tin-tuc/tin-fpt/fpt-ky-thoa-thuan-chuyen-doi-so-voi-vinh-phuc-den-nam-2030

ITG (2024). Khởi động dự án triển khai 3S WMS và 3S SPS tại Hitachi Astemo Vĩnh Phúc - Thành viên của tập đoàn hàng đầu Nhật Bản trong lĩnh vực công nghệ  ô tô, xe máy. Truy cập tại https://itgtechnology.vn/khoi-dong-du-an-trien-khai-3s-wms-va-3s-sps-tai-hitachi-astemo-vinh-phuc-thanh-vien-cua-tap-doan-hang-dau-nhat-ban-trong-linh-vuc-cong-nghe-o-to-xe-may/

Ánh Dương (2024). Lumi khẳng định vị thế khi khánh thành nhà máy sản xuất thiết bị IoT/Smarthome 6000 m2. Truy cập tại https://cafef.vn/lumi-khang-dinh-vi-the-khi-khanh-thanh-nha-may-san-xuat-thiet-bi-iot-smarthome-6000m2-188240422152731602.chn.

Hiếu Phương (2024). Toyota Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Phúc và Bộ Công Thương nỗ lực đẩy mạnh hoạt động nội địa hóa. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. Truy cập tại https://kinhtevadubao.vn/toyota-viet-nam-phoi-hop-voi-ubnd-tinh-vinh-phuc-va-bo-cong-thuong-no-luc-day-manh-hoat-dong-noi-dia-hoa-30652.html

 

Ngày nhận bài: 7/10/2025

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 19/10/2025

Ngày chấp nhận đăng bài: 20/11/2025 

Human resource development policies to support digital transformation in FDI automotive and motorcycle manufacturing enterprises in Phu Tho province

Vu Tuan Anh1

Luu Thi Lan Anh2

1Center for Research and Consultancy in Economics and Business, National Economics University

2School of Engineering Physics, Hanoi University of Science and Technology

 

Abstract:

This study examines the current state of human resource development supporting digital transformation in the supporting industries of Phu Tho province within the context of the Fourth Industrial Revolution. Drawing on an assessment of workforce structure, skills availability, and institutional arrangements, the study finds that despite a relatively abundant supply of technical labor, a substantial mismatch persists between existing workforce competencies and the demands of digital transformation, particularly in automation, production digitalization, and smart industrial management. In addition, the digital transformation management capacity of enterprise leaders, especially within small and medium-sized enterprises, remains limited. The analysis further reveals that policies related to human resource development and digital transformation are fragmented, with weak coordination among enterprises, training institutions, and state management agencies. By clarifying these structural gaps and institutional constraints, the study provides empirical insights into the challenges shaping labor capacity development for digital transformation in Phu Tho’s supporting industries.

Keywords: digital transformation, supporting industries, human resources, industrial policy, digital skills training.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 33 năm 2025]