Các chính sách khuyến khích sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được :
(1) Thông tư 04/2009/TT-BKH ngày 23/7/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành một số danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng, nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước đã sản xuất được. Theo đó, một danh mục 480 loại sản phẩm trong nước sản xuất được sẽ làm căn cứ để miễn thuế giá trị gia tăng, miễn thuế nhập khẩu. Danh mục này đã được ngành. Thuế, Hải quan áp dụng nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước sản xuất tiêu thụ, tiết kiệm ngoại tệ cho nền kinh tế. Tuy nhiên, không cấm nhập.
(2) Chỉ thị số 494/CT-TTg ngày 20/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Với nội dung kích thích sản xuất và sử dụng sản phẩm trong nước sản xuất được nhằm chống suy giảm kinh tế, Chỉ thị nhấn mạnh việc chọn nhà thầu, phân chia gói thầu sử dụng vốn trong nước phải tạo các điều kiện cạnh tranh tối đa cho các doanh nghiệp trong nước nhận được hợp đồng, tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước; Nghiêm cấm chủ đầu tư cho phép sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước, đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu thực hiện gói thầu; Nghiêm cấm việc tổ chức đấu thầu quốc tế gói thầu EPC đối với các dự án trong đó có nhiều phần công việc mà các nhà thầu Việt Nam có thể tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa, xây lắp.
(3) Các quyết định của Bộ Công Thương: 0283/QĐ-BCT, 5569/QĐ-BCT; 4872/QĐ-BCT; Quyết định 2840/QĐ-BCT ngày 28/5/2010 về việc ban hành danh mục máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được. Quyết định kèm theo một danh mục chi tiết quy cách sản phẩm (đã nêu ở Thông tư 04/2009/TT-BKH), đồng thời bổ sung danh mục mới, bổ sung nhóm vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm trong nước đã sản xuất được (toàn văn các văn bản nêu trong bài viết, dễ dàng tra cứu ở các trang Web của Chính phủ, Bộ, hải quan cửa khẩu). Danh mục trên để các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh chỉ đạo không khuyến khích nhập khẩu và hạn chế tiếp cận ngoại tệ, để lựa chọn sử dụng trong hoạt động đấu thầu dự án sử dụng vốn nhà nước.
(4) Chỉ thị 21/CT-BCT ngày 25/08/2010 của Bộ Công Thương về việc thực hiện các biện pháp tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị vật tư, nguyên liệu trong nước sản xuất được trong công tác đấu thầu. Chỉ thị yêu cầu các đơn vị có liên quan rà soát bổ sung danh mục, đồng thời áp dụng danh mục đã ban hành vào công tác đấu thầu, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 494/CT-TTg.
Ngoài văn bản trên, Thông tư 65/2010/TT-BNNPTNT ngày 05/11/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ban hành Danh mục bổ sung giống cây trồng, phân bón được phép sản xuất, kinh doanh, sử dụng và Danh mục thuốc thú y, vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y được phép lưu hành tại Việt Nam. Theo đó, mặt hàng không có trong danh mục sẽ không được nhập khẩu và lưu thông.
Các chính sách nêu trên là công cụ để hạn chế nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước, doanh nghiệp trong nước giúp nhau tiêu thụ sản phẩm trong xu hướng các nền kinh tế đều có biện pháp kích cầu sử dụng sản phẩm trong nước. Đây là điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất trong nước, nhưng quá trình thực hiện và nội dung các văn bản còn nhiều vướng mắc mà Chỉ thị 21/CT-BCT đã nêu ra như: Chưa có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ vương mắc khi thực hiện Luật Đấu thầu, nhất là với hình thức tổng thầu EPC (Công văn 7458/BKH-QLĐT ngày 20/10/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu đăng tải các bài viết quy định pháp luật về gói thầu EPC và tổ chức nghiên cứu các bài viết); Nhận thức của người đứng đầu doanh nghiệp chưa đầy đủ; Thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện đến từng ngành cụ thể. Bình luận các vướng mắc:
Thứ nhất, người đứng đầu doanh nghiệp chịu áp lực của Hội đồng quản trị, thị trường, đối tác liên doanh, đối tác ODA với câu hỏi việc sử dụng hàng hóa trong nước sản xuất được có lợi như thế nào đối với doanh nghiệp? Nếu không sử dụng có chế tài như phạt, hoặc không cấp ngân sách, hoặc không thông qua dự án, nhưng dự án gồm nhiều cấu phần với nhiều nguồn vốn và chủng loại máy móc thiết bị thì cái gì mua trong nước? Các cổ đông đại diện vốn ngoài nhà nước có đồng thuận trước một dây chuyền máy móc thiết bị đồng bộ bị “cắt ra theo nguồn vốn”? Khi mời thầu cung ứng, nếu trường hợp là tổng thầu EPC thì quyền nhập máy móc thiết bị thuộc nhà thầu, chế tài nào buộc tổng thầu phải sử dụng nhà thầu trong nước, sử dụng tư liệu trong nước sản xuất được? Trường hợp mời thầu trong nước, các nhà thầu có chứng minh được chất lượng, quy cách sản phẩm đáp ứng yêu cầu, có đủ năng lực thực hiện,…Đây chính là điểm vướng mắc đối với chủ đầu tư, nhà thầu chính. Mặt khác, các nhà cung ứng, nhà thầu luôn tạo ra sự hấp dẫn về chất lượng, điều kiện thanh toán, hậu mãi tốt hơn khi mua hàng ngoại, khi nhà thầu phải bảo đảm chất lượng công trình, sản phẩm, tiết kiệm chi phí, đẩy nhanh tiến độ đã cam kết, thì sự lựa chọn hàng nội phải có bảo đảm?
Thứ hai, tính đồng bộ luôn là đòi hỏi của cơ chế chính sách cũng như quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Danh mục ban hành nhưng Hiệp hội ngành hàng, các phương tiện truyền thông chưa chỉ ra đầy đủ danh mục đó hiện do đơn vị nào cung ứng, giá cả hiện hành... Tiếp nữa cũng cần làm rõ tỷ trọng nội địa hóa trong sản phẩm đó là bao nhiêu để nội hàm “trong nước sản xuất được” là đích thực. Chúng ta từng phát hiện nhiều loại “hàng nội” được gia công, sản xuất ở nước ngoài mang thương hiệu Việt. Ví dụ, chiếc quạt mà toàn bộ động cơ, hộp số nhập khẩu thì phần gia tăng trong nước nhỏ.
Thứ ba, quy định về danh mục vật tư trong nước sản xuất được chỉ áp dụng đối với nơi sử dụng vốn ngân sách để bảo đảm quyền chủ sở hữu vốn, phù hợp với nguyên tắc của thị trường, nhưng tỷ lệ đầu tư từ ngân sách có xu hướng thấp, đa phần dành cho các doanh nghiệp và tổ chức nhà nước; Quy định không áp dụng với doanh nghiệp sử dụng vốn ngoài ngân sách, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Do vậy, các doanh nghiệp không dùng vốn ngân sách vẫn có thể nhập khẩu nhiều hơn, rồi thanh lí, bán “lỗ” tư liệu nhập khẩu ra thị trường nội địa, góp hiện vật vào liên doanh, đưa gia công...vừa được hưởng ưu đãi đầu vào, lẩn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp.
Quy định có tính hướng dẫn, khuyến khích, nhưng lợi ích cho bên sản xuất, lưu thông, người sử dụng sản phẩm thuộc danh mục đó phải tính toán, nếu không lợi sẽ không làm. Việc áp đặt chế tài thưởng phạt nếu có cũng khó thực hiện, có nguy cơ bảo hộ sự trì trệ, độc quyền như giá xe máy, ô tô,... đã từng và đang ở mức cao.
***
Vướng mắc vậy, nhưng thực tế ở các Tổng công ty: lắp máy (Lilama), xây dựng công nghiệp (Vinaincom), xuất nhập khẩu xây dựng (Vinaconex) và nhiều chủ đầu tư không dùng vốn nhà nước đã thông qua và thực hiện một số dự án có tỷ lệ sử dụng hàng hóa trong nước lớn, chúng tôi nêu một số kiến giải ban đầu:
Thứ nhất, về phía cung, cần ra soát lại tất cả các doanh nghiệp đang sản xuất mặt hàng thuộc danh mục quy định, năng lực hiện nay so với số liệu nhập khẩu của phía cầu; Cung cấp kết quả rà soát để khuyến khích doanh nghiệp chủ động lập dự án đầu tư mới, bổ sung để sớm có sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước. Được biết Bộ Công Thương đã giao nhiệm vụ cho Vụ Năng lượng, Vụ Công nghiệp nặng, Vụ Công nghiệp nhẹ và Cục Hóa chất làm việc này.
Thứ hai, ý thức tự chủ rất quan trọng, ngoài khuyến cáo của Hiệp hội ngành hàng thực hiện các chỉ thị, quyết định nêu trên, điều quan trọng hơn các bên mua bán phải xích lại với nhau, vì lợi ích của hai bên “tôi mua nhưng anh phải làm tốt, tôi làm tốt anh phải mua của tôi”. Các phương tiện truyền thông của một số nước đã từng quảng cáo khuyến khích dùng hàng nội đến mức dựng hình ảnh với thông điệp “người dùng hàng ngoại (cà vạt) mà trong nước sản xuất được là “thắt cổ” tự sát”...
Thứ ba, cần đánh giá rõ hơn mức sử dụng những mặt hàng trong danh mục trên ở nước ta là bao nhiêu hiện vật và giá trị, đơn vị sản xuất nào mạnh, yếu, đề xuất bổ sung sửa đổi các quy hoạch ngành hàng. Theo số liệu nhập khẩu nhóm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên nhiên vật liệu (xem bảng) cần chỉ rõ khả năng sản xuất ở trong nước để cải thiện cơ cấu nhập khẩu, tăng năng lực sản xuất để tạo thêm sản phẩm, việc làm. Nếu không, chúng ta sẽ khó mà vượt qua được “cái bẫy” thỏa mãn với nền kinh tế gia công có việc làm với thu nhập trung bình, phát triển không bền vững, tự biến làm nơi thực hiện giá trị gia tăng cho nước ngoài (bên cung vật tư) và nhường giá trị tăng thêm (cho bên mua sản phẩm) một cách bất công bằng.
Sau cùng, cần thức tỉnh trước lợi ích nhỏ, đó là hoa hồng, và các hứa hẹn như bao tiêu sản phẩm, chuyển giao và đổi mới công nghệ, nào là giá cả thấp, được ứng trước,…sẽ làm nản chí các nhà đầu tư sản xuất trong nước, tạo thói quen ỉ nại những gì sẵn có trên thị trường quốc tế. Những mặt hàng chúng ta có bước tăng trưởng lớn như điện, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, động cơ điện, gia công cấu kiện sắt thép bê tông, khai khoáng, lọc hóa dầu,... đã chứng minh khả năng tự chủ của chúng ta về chủng loại vật tư cơ bản. Những tính toán từ đầu, cùng với quản lí điều hành hòa nhịp với thị trường đưa chúng ta bứt qua rào cản giá thành sản phẩm ban đầu cao để chiếm lĩnh ngay trên “sân nhà”.
(Tạp chí Công nghiệp -Công nghiệp và tiếp thị tháng 12/2010)
Làm gì để tiêu thụ máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được
Phát triển sản xuất và tiêu dùng trong nước vẫn luôn là ưu tiên của các nền kinh tế trong xu thế hội nhập nhưng các ưu tiên đó không vi phạm các cam kết quốc tế mà nước đó tham gia. Những năm 90 thế k
