Tóm tắt:

Trên cơ sở phân tích di sản đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các giá trị cốt lõi về chính nghĩa, hòa bình, văn hóa và nhân văn, bài viết làm rõ ý nghĩa của những giá trị đó đối với công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, đề xuất một số định hướng nhằm tiếp tục phát huy di sản đối ngoại Hồ Chí Minh góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia và phát huy sức mạnh mềm Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Từ khóa: đối ngoại, di sản, Hồ Chí Minh, kỷ nguyên số.

1. Đặt vấn đề

Từ góc độ nghiên cứu, có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà hoạt động cách mạng kiệt xuất mà còn là một đại sứ đặc biệt đưa hình ảnh Việt Nam đến với thế giới. Người xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam bằng chính hệ giá trị cùng hành động thực tiễn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đó là những giá trị của chính nghĩa, hòa bình, văn hóa và nhân văn. Chính những giá trị ấy đã làm nên hình ảnh của Việt Nam - quốc gia với dải đất hình chữ S nhỏ bé nhưng anh hùng. Đồng thời, góp phần tạo nên nền tảng "sức mạnh mềm" của quốc gia trong kỷ nguyên số.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Di sản đối ngoại Hồ Chí Minh - nền tảng giá trị sâu sắc hình thành "sức mạnh mềm" Việt Nam trong kỷ nguyên số

"Sức mạnh mềm" là khả năng tạo dựng sức hấp dẫn, gây ảnh hưởng và nâng cao vị thế thông qua các giá trị văn hóa, con người, đường lối đối ngoại, uy tín và hình ảnh quốc gia, từ đó thúc đẩy sự đồng thuận, hợp tác và ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nghiên cứu di sản đối ngoại Hồ Chí Minh và đặt trong bối cảnh hiện nay đã cho thấy nhiều giá trị to lớn về cả lý luận và thực tiễn...

Thứ nhất, chính nghĩa là giá trị cốt lõi tạo nên tính chính danh của hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế

Lòng yêu nước, thương dân sâu sắc cùng trái tim nhiệt thành cách mạng đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên mới là Văn Ba (sau này là Hồ Chí Minh) bước lên con tàu Amiral Latouche Tresville rời quê hương ra đi tìm đường cứu nước. Với Người, mục tiêu cao nhất là giành độc lập, tự do cho dân tộc và mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Chia sẻ với các nhà báo nước ngoài về mong muốn, khát vọng lớn nhất của mình, Người chỉ trả lời rất giản dị:"Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"[1]. Theo đó, điều quan trọng và cần nhất đối với Người, đó là Tổ quốc được độc lập, đồng bào được tự do. Cũng chính mục tiêu cao đẹp ấy đã trở thành động lực to lớn giúp Người vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, quyết tâm thực hiện khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong hệ giá trị chung của nhân loại về độc lập dân tộc, quyền con người và công lý. Người không xem cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam mà luôn gắn với khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Việc trích dẫn “Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ” năm 1776 và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Pháp năm 1789 trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý mà còn thể hiện tư duy đối ngoại sâu sắc của Hồ Chí Minh: đặt Việt Nam vào cùng hệ giá trị phổ quát của nhân loại để khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập. Việc vận dụng những tư tưởng về quyền con người và quyền dân tộc tự quyết đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc, chứng minh cuộc đấu tranh của Nhân dân Việt Nam là hoàn toàn chính nghĩa, phù hợp với luật pháp và lương tri quốc tế. Sự chính nghĩa của Việt Nam được thể hiện nhất quán trong nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của các dân tộc. Cũng từ giá trị của chính nghĩa không chỉ giúp Việt Nam giành được sự đồng tình của lực lượng tiến bộ trên thế giới trong thế kỷ XX mà còn tạo nên nền tảng quan trọng để xây dựng hình ảnh một quốc gia tôn trọng luật pháp quốc tế, kiên định bảo vệ độc lập, chủ quyền bằng các nguyên tắc được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Trong bối cảnh hiện nay, khi thông tin được lan truyền với tốc độ rất nhanh trên các nền tảng số, tính chính nghĩa tiếp tục là yếu tố quyết định mức độ thuyết phục của truyền thông đối ngoại. Một quốc gia chỉ có thể tạo dựng uy tín lâu dài khi các thông điệp đối ngoại được xây dựng trên nền tảng sự thật, luật pháp quốc tế và những giá trị phổ quát của nhân loại. Đây cũng chính là cơ sở để Việt Nam nâng cao vị thế, củng cố niềm tin và gia tăng sức hấp dẫn trong quan hệ quốc tế.

Thứ hai, hòa bình là giá trị tạo nên uy tín và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam

Yêu chuộng hòa bình là một trong những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển thành tư tưởng đối ngoại xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng. Có thể nói, hòa bình là một giá trị vĩnh cửu cũng là khát vọng của toàn nhân loại đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận ra, Người viết: "Nhân dân nước nào cũng yêu chuộng hòa bình, cũng chán ghét chiến tranh, cũng muốn sống tự do độc lập"[2].Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động đối ngoại, Người luôn chủ trương giải quyết bất đồng bằng đối thoại, thương lượng và tôn trọng lẫn nhau.

Tư tưởng đó được thể hiện xuyên suốt từ các hoạt động ngoại giao trước Cách mạng Tháng Tám, và sau năm 1945 khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán với Chính phủ Pháp và ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 cũng như Tạm ước ngày 14/9/1946 với mong muốn duy trì hòa bình, tạo thêm thời gian để củng cố chính quyền cách mạng và tránh một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Lập trường hòa bình của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp rõ nét qua bài viết Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới (1946):“Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc. Đó là ý nguyện rõ rệt của Việt Nam, mong người Pháp và toàn thế giới biết cho”[3]. Đặc biệt, trong Lời kêu gọi gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp (1946), Người nhấn mạnh: "Tôi yêu Tổ quốc và đồng bào tôi, tôi cũng yêu nước Pháp và nhân dân Pháp. Vì vậy, tôi thiết tha kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp nghĩ đến lợi quyền chung tối cao của hai dân tộc Pháp - Việt, hạ lệnh cho đương cục Pháp khôi phục tình trạng trước ngày 20/11/1946, để cùng Chính phủ Việt Nam thi hành Tạm ước, để xây đắp sự cộng tác Pháp - Việt thân thiện và lâu dài"[4]. Nhưng mong muốn đó đã không nhận được sự thiện chí từ nước Pháp, do vậy khi buộc phải tiến hành kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn khẳng định chiến tranh là biện pháp cuối cùng để bảo vệ hòa bình và độc lập dân tộc. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" (19/12/1946), Người nhấn mạnh: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới..." [5]. Khẳng định này đã phản ánh rõ quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng điều quan trọng nhất đối với Việt Nam và luôn được đặt lên hàng đầu đó là hòa bình, song nếu những quyền dân tộc cơ bản bị xâm phạm, nền độc lập bị đe dọa thì Nhân dân Việt Nam sẽ kiên quyết "đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải"[6] để bảo vệ những quyền thiêng liêng đó.

Điều đáng chú ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, tôn trọng độc lập dân tộc và luôn mong muốn hợp tác bình đẳng với tất cả các quốc gia. Người cũng chủ động đưa tiếng nói của Việt Nam ra thế giới thông qua nhiều hoạt động ngoại giao, gặp gỡ các chính khách, trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế, gửi thư tới các nguyên thủ quốc gia, các tổ chức quốc tế để nói rõ về mục tiêu, lập trường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Những hoạt động và cách tiếp cận đó trên phương diện ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần định hình hình ảnh Việt Nam là một quốc gia lấy hòa bình, hợp tác làm nền tảng cho quan hệ quốc tế và nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới.

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, cạnh tranh địa chính trị và xung đột khu vực, giá trị hòa bình tiếp tục trở thành nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm Việt Nam. Một Việt Nam tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác đa phương và kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình không chỉ thể hiện sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn góp phần củng cố hình ảnh Việt Nam là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, văn hóa và nhân văn là nguồn lực tạo nên sức hấp dẫn và bền vững mang tên Việt Nam

Trong hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, nhiều hệ tư tưởng và nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, dù ở bất cứ đâu, Người luôn có sự tiếp thu chọn lọc các giá trị tiến bộ của thế giới nhưng vẫn luôn giữ gìn cốt cách, lối sống và bản sắc của một người Việt Nam. Người luôn sử dụng tiếng Việt trong nhiều bài viết, trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn nếp sống thanh bạch, gần gũi với Nhân dân, xây dựng tinh thần quốc tế trong sáng. Qua các bài viết, bài phát biểu và hoạt động đối ngoại, Người thường giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam cũng như khát vọng độc lập, hòa bình của dân tộc. Chính sự thống nhất giữa tư tưởng, nhân cách và lối sống đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc biệt, để tên Người - Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ cách mạng mà còn trở thành hiện thân sinh động của văn hóa Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới.

Bên cạnh đó, giá trị nhân văn trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở tinh thần tôn trọng con người, đề cao đối thoại, khoan dung và hòa giải. Người luôn phân biệt rõ giữa các thế lực xâm lược với nhân dân yêu chuộng hòa bình của các quốc gia khác; đề cao sự cảm thông, hợp tác và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ hữu nghị với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị hay trình độ phát triển, miễn là các quốc gia đó tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Chính cách ứng xử ấy đã tạo nên hình ảnh một Việt Nam nhân ái, nghĩa tình và có trách nhiệm, góp phần gia tăng sự đồng cảm và thiện cảm của bạn bè quốc tế đối với đất nước. Trong kỷ nguyên số, khi hình ảnh quốc gia được lan tỏa chủ yếu thông qua các nền tảng truyền thông số, những giá trị văn hóa và nhân văn càng trở thành nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm, góp phần giới thiệu một Việt Nam giàu bản sắc, thân thiện, sáng tạo và hội nhập. Vì vậy, phát huy giá trị văn hóa và nhân văn trong di sản đối ngoại Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu kế thừa truyền thống mà còn là điều kiện để nâng cao sức hấp dẫn quốc gia trong môi trường truyền thông toàn cầu hiện nay.

Có thể khẳng định, hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, yêu chuộng hòa bình, đoàn kết, khoan dung và phong cách ngoại giao nhân văn. Ngày nay, Đảng và Nhà nước tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị ấy trong quá trình xây dựng nền ngoại giao hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc và chủ động hội nhập quốc tế.

2.2. Phát huy những giá trị di sản đối ngoại Hồ Chí Minh góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam phát triển, vươn mình trong kỷ nguyên số

Cuộc cách mạng Công nghiệp lần tư với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo AI, dữ liệu lớn và các nền tảng truyền thông số đã và đang làm thay đổi căn bản phương thức hoàn toàn mới để quảng bá hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế. Nếu trước đây, việc giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với thế giới chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động ngoại giao nhà nước, báo chí truyền thống hay các diễn đàn quốc tế. Thì nay, khi không gian số mở rộng đã góp phần tạo lập nên môi trường thông tin phong phú đem tới sự tiếp cận đầy đủ hơn về đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè năm châu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, việc xây dựng và bảo vệ hình ảnh quốc gia trở thành một yêu cầu có ý nghĩa chiến lược, gắn chặt với việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, tiếp tục nghiên cứu, phát huy giá trị di sản đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định giá trị lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn là nền tảng tư tưởng quan trọng định hướng thực tiễn cho hoạt động đối ngoại và công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn mới.

- Những kết quả đạt được:

Quan điểm nhất quán của Đảng cộng sản Việt Nam trong đường lối đối ngoại được thể hiện tại Đại hội XIV của Đảng đó là kiên định thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại[7]. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng (Sau đây viết tắt là Nghị quyết 06). Đây chính là sự cụ thể hóa những chủ trương, đường lối đã được Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định và cũng là sự thể hiện rõ tư tưởng, tầm nhìn của Đảng về đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đã chỉ rõ: trước những yêu cầu mới hiện nay, nhiệm vụ đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đồng thời, đối ngoại Việt Nam phải dựa trên tinh thần: "tự chủ chiến lược"- thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt với những biến động của tình hình mới; thể hiện sự "tự cường" qua việc phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.

Thực hiện nhất quán các quan điểm của Đảng, trên các nền tảng truyền thông số, hình ảnh Việt Nam ngày càng được khẳng định là một quốc gia ổn định về chính trị, phát triển năng động, tôn trọng luật pháp quốc tế, luôn đề cao đối thoại, hợp tác và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và thông qua những dấu ấn nổi bật của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác đa phương. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 nước; số nước Việt Nam có khuôn khổ đối tác Chiến lược toàn diện, đối tác Chiến lược và đối tác Toàn diện là 42 nước [8]. Qua hơn 40 năm đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng kinh tế cao của khu vực và thế giới; đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% đã tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo. Quy mô GPD năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao [9]. Cùng với những thành tựu trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, sự phát triển mạnh mẽ của du lịch, ẩm thực và các ngành công nghiệp văn hóa đã làm nên một Việt Nam - điểm đến an toàn, ổn định và hấp dẫn. Những kết quả trên cũng đã cho thấy sự nỗ lực của Việt Nam với tinh thần hợp tác, hữu nghị cùng phát triển, xây dựng một quốc gia ổn định, đổi mới, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Những thông điệp này được truyền tải rộng rãi thông qua hệ thống báo chí điện tử, các nền tảng số của cơ quan nhà nước, các diễn đàn quốc tế trực tuyến cũng như mạng xã hội, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đó cũng là quyết tâm của Đảng ta trong việc "phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước"[10].

Trước yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết 06 khẳng định: Đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân làm trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm cùng sự tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và văn minh nhân loại. Có thể thấy, trong bối cảnh thế giới đối mặt với nhiều thách thức như xung đột vũ trang, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng hay an ninh phi truyền thống hoặc những mối quan hệ xung đột phức tạp hiện nay, thì giá trị của hòa bình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo đuổi càng thể hiện ý nghĩa thời sự sâu sắc đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Cùng với sự kiên định và hành động của Việt Nam về vấn đề hòa bình đã thể hiện rõ bản lĩnh, trách nhiệm và tinh thần:"Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế"[11].

 Việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, đưa lực lượng sang Venezuela tham gia tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ khắc phục hậu quả thảm họa động đất... đã góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam nhân ái, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Các hoạt động này cũng được truyền thông rộng rãi bằng nhiều hình thức hiện đại giúp bạn bè quốc tế tiếp cận thông tin về Việt Nam nhanh chóng, trực quan và đa chiều hơn.

Đồng thời, những giá trị văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gìn giữ và lan tỏa cũng đang được phát huy mạnh mẽ hơn trong thời đại số. Công nghệ số tạo điều kiện để văn hóa Việt Nam vượt qua mọi rào cản về không gian và thời gian, tiếp cận hàng triệu người trên thế giới. Những di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, ẩm thực, âm nhạc, nghệ thuật truyền thống cùng hình ảnh con người Việt Nam thân thiện, nhân ái được quảng bá rộng rãi thông qua các nền tảng số như YouTube, Facebook, TikTok, Instagram và các ứng dụng du lịch thông minh. Nhiều sản phẩm truyền thông sáng tạo, video ngắn, triển lãm trực tuyến, bảo tàng số hay chương trình quảng bá du lịch bằng công nghệ thực tế ảo đã góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế (từ năm 2017 đến nay, du lịch Việt Nam liên tục được nhận những giải thưởng danh giá của tổ chức Tổ chức Giải thưởng thế giới (World Travel Awards). Nghị quyết số 06 nhấn mạnh: trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam, là cách thức để lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế. Với sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số, mỗi người dân Việt Nam hôm nay đều có thể trở thành một chủ thể truyền thông, những "sứ giả văn hóa". Mỗi người dân có trách nhiệm chỉ với một bài viết tích cực, một video giới thiệu văn hóa, một hành động đẹp được chia sẻ trên mạng xã hội hay cách ứng xử văn minh của mỗi công dân trên không gian mạng đều góp phần tạo dựng hình ảnh Việt Nam thân thiện, văn minh và đáng tin cậy. Điều này rất gần với tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp cách mạng, cũng là việc học và làm theo Bác bằng những hành động cụ thể và thiết thực nhất.

- Những thách thức mới:

Mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, song công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức mới. Cạnh tranh truyền thông giữa các quốc gia ngày càng gay gắt; các nền tảng số xuyên biên giới chi phối mạnh mẽ quá trình lan truyền thông tin; công nghệ AI và deepfake làm gia tăng nguy cơ "bóp méo" sự thật; trong khi năng lực truyền thông đa ngôn ngữ, khả năng dự báo và xử lý khủng hoảng truyền thông quốc tế của một số cơ quan vẫn còn hạn chế. Đồng thời, công nghệ cũng chỉ là công cụ, là cơ hội để nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, còn yếu tố quyết định vẫn là giá trị của thông điệp mà quốc gia đó mang tới. Thông điệp đó chỉ có thể được lan tỏa bền vững khi được xây dựng trên  nền tảng của sự thật, tính chính nghĩa, trách nhiệm và bản sắc văn hóa. Điều này đã và đang đặt ra những vấn đề mới của thực tiễn, đòi hỏi công tác đối ngoại phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, nội dung, phương thức và công nghệ để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

- Một số giải pháp thực hiện:

Trên tinh thần bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, có thể thấy công tác thông tin đối ngoại trong kỷ nguyên số cần được tiếp cận không chỉ như một hoạt động truyền thông mà còn là một phần quan trọng của nền đối ngoại toàn diện, hiện đại. Từ đó, góp phần kiến tạo hình ảnh quốc gia, quảng bá giá trị Việt Nam, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế, tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước. Chính vì vậy, tiếp nối di sản đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lan tỏa hình ảnh Việt Nam trong thời đại số hiện nay, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp như sau:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại. Tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển trong toàn bộ hoạt động thông tin đối ngoại, bảo đảm mọi thông điệp tuyên truyền và truyền thông đều được thống nhất trên tinh thần đường lối đối ngoại của Đảng, luôn lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất; xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý có tình, đề cao thượng tôn luật pháp quốc tế; tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác thông tin đối ngoại, phát triển và xây dựng chiến lược truyền thông số quốc gia với nội dung hiện đại, đa ngôn ngữ. Ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo và các dữ liệu lớn; chú trọng các hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người, thành tựu phát triển của Việt Nam. Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái thông tin đối ngoại hiện đại, có khả năng tiếp cận nhanh và rộng tới công chúng quốc tế.

Ba là, kiên quyết và chủ động đấu tranh, phản bác có hiệu quả các thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc về tình hình Việt Nam thông qua việc nâng cao chất lượng truyền thông chính thống. Tăng cường cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác, "phủ xanh" thông tin tích cực, chính thống trên không gian mạng để định hướng, dẫn dắt dư luận. Đồng thời, ứng dụng hiệu quả công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu để phát hiện sớm, xử lý nhanh các chiến dịch truyền thông sai lệch, góp phần bảo vệ hình ảnh, uy tín và lợi ích quốc gia trên không gian mạng.

Bốn là, phát huy vai trò của đội ngũ báo chí với vai trò là "nòng cốt" trong định hướng thông tin, lan tỏa các giá trị tích cực về Việt Nam, rèn "bút sắc" để đấu tranh, phản bác những luận điểm sai trái, xuyên tạc nhất là trên không gian mạng. Đội ngũ văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung số cần đẩy mạnh quảng bá văn hóa, lịch sử, con người, thành tựu phát triển của đất nước bằng các sản phẩm truyền thông hiện đại, sáng tạo, phù hợp với xu thế tiếp cận của công chúng quốc tế. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần phát huy vai trò là cầu nối hữu nghị, tăng cường giao lưu Nhân dân và quảng bá hình ảnh Việt Nam tại nước sở tại.

Năm là, nâng cao năng lực số, ý thức trách nhiệm và văn hóa ứng xử trên không gian mạng của mỗi người dân, nhất là trong việc lan tỏa những giá trị tích cực về một Việt Nam tự cường, đổi mới và trách nhiệm. Khuyến khích mỗi người dân trở thành một "đại sứ số" góp phần giới thiệu hình ảnh Việt Nam giàu truyền thống văn hóa, thân thiện đến với bạn bè quốc tế; biến ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản thành nguồn lực "nội sinh" đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội đất nước và từng địa phương.

3. Kết luận 

Trong kỷ nguyên số, hình ảnh quốc gia không chỉ được định hình bởi những thông điệp chính thức, mà ngày càng được phản ánh thông qua năng lực quản trị quốc gia, chất lượng phát triển, bản sắc văn hóa, trách nhiệm quốc tế và sự hiện diện tích cực trên không gian số. Vì vậy, phát huy di sản đối ngoại Hồ Chí Minh trong công tác thông tin đối ngoại hiện nay chính là quá trình chuyển hóa những giá trị về chính nghĩa, hòa bình và nhân văn thành nguồn lực của sức mạnh mềm quốc gia. Kế thừa và phát huy di sản của Người trong thực tiễn xây dựng đất nước với những yêu cầu mới, Việt Nam hôm nay đang từng bước xây dựng hình ảnh một quốc gia đổi mới, hội nhập, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Qua đó, không chỉ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc mà còn đóng góp vào sự phát triển của nền văn minh nhân loại.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

[1]. Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4), tr.187. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật. 

[2]Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 9), tr.416. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật.

[3] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4), tr.511. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật.

[4] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4), tr.519. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật.

[5] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4), tr.534. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật.

[6] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 6), tr.587. Nxb Chính trị quốc gia Sư thật.

[7] Đảng cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), tr.47. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[9] Đảng cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), tr.47. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[10] Đảng cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), tr.117. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[11] Đảng cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), tr.117. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Đảng cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4, 6, 9). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (11/6/2026). Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-102260611135122368.htm.