Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê: Từ thời kỳ thiếu điện, đến nay chúng ta đã tự lực được về năng lượng
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Công Thương trong những ngày ngành Công Thương hướng tới kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống (14/5/1951 - 14/5/2026), Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê vẫn nhớ rõ những năm tháng trên đại công trường Sông Đà, những cuộc tranh luận kỹ thuật ở Ialy hay quyết định thay đổi công nghệ tại Sơn La để rút ngắn tiến độ công trình. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành năng lượng, ở tuổi ngoài 90, điều khiến ông trăn trở là làm sao để Việt Nam tiếp tục xây dựng được một hệ thống năng lượng hiện đại, linh hoạt và đủ sức nâng đỡ cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong nhiều thập kỷ tới.
Trong những tháng đầu năm 2026, hệ thống điện quốc gia liên tiếp ghi nhận các mốc vận hành kỷ lục mới. Công suất cực đại toàn hệ thống đã vượt 52.000 MW, trong khi nhu cầu điện tiếp tục tăng mạnh cùng đà phục hồi và mở rộng của sản xuất công nghiệp, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa và các ngành công nghệ cao. Áp lực bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng nhanh đang trở thành một trong những yêu cầu trọng yếu của nền kinh tế.
Nhưng nhìn rộng hơn, câu chuyện năng lượng của Việt Nam chưa bao giờ chỉ dừng ở việc “đủ điện”. Đằng sau mỗi giai đoạn phát triển của đất nước luôn là những quyết sách mang tính chiến lược về năng lượng, từ phát triển nguồn điện, lưới truyền tải cho tới bảo đảm an ninh nhiên liệu và năng lực công nghiệp quốc gia.
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Công Thương, Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê - người gắn bó nhiều thập kỷ với ngành Năng lượng và trực tiếp tham gia các công trình điện lớn của đất nước cho rằng, tư duy xuyên suốt của ngành điện Việt Nam qua nhiều thế hệ là: “Điện phải đi trước một bước”. Đây không chỉ là yêu cầu riêng của ngành năng lượng mà là vấn đề chiến lược đối với phát triển quốc gia.
Từ tư duy “đi trước một bước”, ngành Năng lượng Việt Nam đã từng bước xây dựng nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đang tiếp tục đứng trước những yêu cầu mới của chuyển dịch năng lượng, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Tư duy xuyên suốt trong quá trình phát triển ngành Năng lượng Việt Nam là xem năng lượng như “hạ tầng của hạ tầng” - nền tảng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế vận hành và phát triển. Thành công lớn nhất của ngành Năng lượng không chỉ nằm ở số lượng nhà máy hay quy mô công suất, mà ở việc từng bước xây dựng được hệ thống hạ tầng đủ sức nâng đỡ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ông Thái Phụng Nê (thứ 3 từ trái) cùng Tổng chuyên viên Bogachenko (thứ 4) và Ban lãnh đạo công trình thủy điện Hòa Bình sau buổi làm việc, những năm 80 - Ảnh: Tư liệu
Theo ông Thái Phụng Nê, phát triển năng lượng không thể chạy theo nhu cầu trước mắt. Nếu chờ đến khi thiếu điện mới triển khai dự án, hệ thống sẽ luôn ở thế bị động, bởi một công trình nguồn điện lớn có thể mất từ 5 - 10 năm, thậm chí lâu hơn để hoàn thành.
Nghị quyết Trung ương từ thời kỳ đầu, Việt Nam đã xác định rõ: muốn công nghiệp hóa thì năng lượng phải đi trước một bước. Với nhận thức đó, dù giai đoạn đất nước vẫn còn nhiều khó khăn sau chiến tranh, ngành Năng lượng Việt Nam vẫn được “ưu tiên” với tư duy quy hoạch dài hạn. Giai đoạn 1981 - 1985, lần đầu tiên Việt Nam xây dựng Tổng sơ đồ phát triển điện lực I nhằm dự báo nhu cầu phụ tải và chuẩn bị nguồn điện, lưới điện cho nhiều năm sau. Tiếp đó, là các Tổng sơ đồ điện II, III, IV. Từ năm 2001, công tác quy hoạch điện tiếp tục được hoàn thiện với tên gọi Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, lần lượt qua các Quy hoạch điện V, VI, VII, VII điều chỉnh và hiện nay là Quy hoạch điện VIII, VIII điều chỉnh.
Từ nền tảng quy hoạch, hàng loạt công trình năng lượng quy mô lớn đã được triển khai như Thủy điện Hòa Bình, Sơn La hay hệ thống truyền tải 500kV Bắc - Nam giúp giải quyết nhu cầu điện trước mắt và tạo dư địa phát triển cho nền kinh tế trong nhiều thập kỷ.
Ít ai biết rằng, cũng trong giai đoạn triển khai Tổng sơ đồ điện I, khi cơ cấu nguồn điện Việt Nam chủ yếu vẫn là thủy điện và nhiệt điện than, Bộ Điện lực đã đề xuất và được Chính phủ cho phép nghiên cứu năng lượng mới, năng lượng tái tạo thông qua Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước mang mã số 10-A. Đây chính là một trong những nền móng sớm cho quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam về sau.
Cũng từ tư duy quy hoạch đồng bộ, Việt Nam không chỉ tập trung phát triển nguồn điện mà còn đồng thời đầu tư hệ thống truyền tải và phân phối điện trên phạm vi cả nước. Trong nhiều năm, ngành Điện kiên trì mục tiêu đưa điện tới vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo.
Từ những tuyến đường dây vượt núi, băng rừng đến các dự án cáp ngầm vượt biển đưa điện ra đảo xa, Việt Nam từng bước giải quyết đồng thời bài toán kỹ thuật, phát triển xã hội và thu hẹp khoảng cách vùng miền - điều đến nay không nhiều quốc gia thực hiện được ở quy mô lớn như vậy.
“Từ thời kỳ thiếu điện, chúng ta đã dần cân bằng nguồn điện và phụ tải, bắt đầu có dự phòng. Không những không thiếu điện nữa, ta còn đưa điện sáng về nông thôn, miền núi, hải đảo. Than, dầu cũng đi theo đáp ứng, cơ bản đủ nhu cầu năng lượng cho đất nước.
Năm 2025, 2026, chúng ta đã tự lực được về năng lượng, không bị khủng hoảng dù trong biến động quốc tế, khi mà thậm chí cả các nước phát triển cũng vẫn có nơi, có lúc thiếu điện.
Đây là điều đáng tự hào.”
Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê - Nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng
Theo Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê, nếu giai đoạn trước đây, mục tiêu lớn nhất của ngành Năng lượng là “thoát thiếu điện”, thì hiện nay yêu cầu đặt ra đã khác: xây dựng một hệ thống năng lượng hiện đại, xanh hơn, linh hoạt hơn, có khả năng thích ứng với những biến động dài hạn của nền kinh tế.
Dù bối cảnh và yêu cầu phát triển đã thay đổi, những bài học chiến lược được tích lũy qua nhiều thời kỳ phát triển ngành Năng lượng Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về quy hoạch và tổ chức thực hiện, về thể chế, tư duy hệ thống, công nghệ và về con người.
Quy hoạch đi trước, thể chế mở đường
Một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên thành công của ngành Năng lượng Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, theo ông Thái Phụng Nê, là sự thống nhất giữa tư duy chiến lược và năng lực tổ chức thực hiện thực tế.
Mệnh lệnh “điện phải đi trước một bước” không chỉ là yêu cầu riêng của ngành Điện mà là tư duy phát triển quốc gia, bởi năng lượng luôn là điều kiện tiên quyết để phát triển công nghiệp, hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo ông Thái Phụng Nê, muốn “điện đi trước một bước” thì quy hoạch phải đi trước một bước nữa.
Tuy nhiên, quan trọng hơn nữa, khi quy hoạch đã được phê duyệt thì phải tổ chức thực hiện đồng bộ cả nguồn điện, truyền tải và phân phối điện, với sự chỉ đạo quyết liệt và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Ông cho rằng trong các giai đoạn trước đây, Việt Nam đã làm khá tốt việc này khi các dự án nguồn điện, lưới điện và điện khí hóa nông thôn, miền núi, hải đảo được triển khai tương đối đồng bộ theo quy hoạch đã đề ra. Theo ông, “việc tổ chức thực hiện phải được chỉ đạo thống nhất, liên tục và đồng bộ, đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì động lực tăng trưởng của nền kinh tế”.
Để quy hoạch thực sự đi vào cuộc sống thì yếu tố quyết định nằm ở thể chế và cơ chế tổ chức thực hiện. Thực tế từ các công trình năng lượng lớn cho thấy khi có cơ chế phù hợp, nhiều nguồn lực có thể được giải phóng rất nhanh.
Vận chuyển thiết bị siêu trường siêu trọng nặng 280 tấn bằng phương pháp trailer với hệ thống giảm tải bằng các “tấm đệm” thủy lực được đặt trên hơn 120 bánh xe - Ảnh: Vietnamnet
Ông dẫn lại trường hợp Thủy điện Sơn La, khi Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế đặc biệt trong tổ chức thực hiện dự án. Thay vì chờ hoàn thiện toàn bộ thủ tục mới triển khai thi công như thông lệ, nhiều hạng mục được triển khai song song; hạ tầng công trường được chuẩn bị trước; nguyên tắc “cái gì đủ điều kiện thì làm trước” được áp dụng để rút ngắn thời gian triển khai. Thực tế, công trình đã hoàn thành sớm hơn kế hoạch tới 3 năm.
Không chỉ mở đường về tiến độ, cơ chế chính sách còn góp phần tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp trong nước. Các Quyết định số 797/CP-CN và 400/CP-CN của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo, lắp đặt thiết bị cơ khí thủy công tại các công trình thủy điện lớn. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp cơ khí, xây lắp và kỹ thuật trong nước mới từng bước trưởng thành, tiến tới đảm nhận được các hạng mục ngày càng lớn và phức tạp hơn trong các công trình năng lượng sau này.
Ông cho rằng bài học lớn rút ra là thể chế không thể chỉ dừng ở vai trò quản lý hay kiểm soát, mà phải thực sự trở thành công cụ kiến tạo phát triển, mở đường cho đổi mới sáng tạo và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Chuyển dịch năng lượng đòi hỏi tư duy hệ thống
Khi được hỏi về câu chuyện chuyển dịch năng lượng, Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê cho rằng, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng chuyển dịch năng lượng chủ yếu dưới góc độ phát triển thêm điện gió, điện mặt trời, trong khi năng lượng tái tạo chỉ có thể phát triển bền vững nếu đi kèm hạ tầng đồng bộ cho cả hệ thống điện.
“Phải xây dựng được một hệ thống năng lượng hiện đại, xanh hơn và có khả năng thích ứng dài hạn”, ông nhấn mạnh.
“Sở trường của ta là thủy điện, chúng ta có thể phát huy làm nhiều thủy điện tích năng để tăng dự trữ. Điện hạt nhân cũng phải làm ngay. Và đặc biệt là công nghệ truyền tải phải khác, phải làm truyền tải một chiều, mới đưa được năng lượng tái tạo liên miền và giảm tổn thất”, ông Thái Phụng Nê đặt vấn đề.
Ngành Năng lượng không thể phát triển theo tư duy cục bộ hay ngắn hạn. Một dự án điện có thể mang lại lợi ích cho một địa phương, nhưng vận hành của hệ thống điện lại là bài toán liên kết toàn quốc. Nếu thiếu quy hoạch tổng thể và sự đồng bộ giữa nguồn - lưới - lưu trữ, hệ thống sẽ đối mặt với rủi ro mất cân đối và lãng phí đầu tư. Theo ông, đây sẽ là bài toán trung tâm của ngành năng lượng Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.
Thủy điện tích năng Bác Ái sử dụng nước từ hồ Sông Cái thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ ở Ninh Thuận - Ảnh: Đức Cường
Làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực nội sinh
Cũng theo Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê, một trong những bài học lớn nhất của ngành Năng lượng Việt Nam là phải từng bước làm chủ công nghệ và xây dựng năng lực nội sinh cho đất nước. Vì vậy, quan điểm xuyên suốt của ngành năng lượng trong nhiều năm qua là: “Cái gì trong nước làm được thì kiên quyết làm”.
Thời gian qua, từ quá trình triển khai các công trình lớn, Việt Nam từng bước hình thành năng lực trong nhiều lĩnh vực, như: cơ khí thủy công, xây lắp công trình ngầm, thi công đường dây truyền tải, cáp ngầm vượt biển hay vận hành hệ thống điện quy mô lớn.
Ông đặc biệt nhắc tới hình ảnh chiếc cần cẩu 1.200 tấn do doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thiết kế, chế tạo và vận hành tại công trường Sơn La như một biểu tượng cho bước trưởng thành của năng lực kỹ thuật trong nước. Giá trị quan trọng nhất của quá trình này không chỉ nằm ở việc giảm phụ thuộc vào nhập khẩu thiết bị, mà là tạo nền tảng cho năng lực công nghiệp và kỹ thuật quốc gia.
Tuy nhiên, theo ông Thái Phụng Nê, ngành Năng lượng hiện nay đang bước vào giai đoạn có yêu cầu công nghệ cao hơn rất nhiều, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện hạt nhân, lưu trữ năng lượng, truyền tải công suất lớn, lưới điện thông minh, hay điều độ tích hợp năng lượng tái tạo. “Chuyển dịch năng lượng sẽ không thể thành công nếu chỉ dừng ở nhập khẩu công nghệ. Điều quan trọng là phải từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, chế tạo, vận hành và làm chủ kỹ thuật trong nước”.
Đầu tư cho con người là đầu tư cho an ninh năng lượng
Khép lại những chia sẻ của mình, Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê cho rằng trong quá trình phát triển ngành Năng lượng, Việt Nam rất chú trọng đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh việc cử cán bộ, kỹ sư ra nước ngoài học tập, tiếp cận công nghệ mới, nhiều chuyên gia quốc tế cũng được mời trực tiếp tới công trường để hướng dẫn, chuyển giao kinh nghiệm cho đội ngũ trong nước.
Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng hơn cả không chỉ nằm ở đào tạo bài bản, mà là tạo ra môi trường để con người trưởng thành ngay trong thực tiễn lao động và tổ chức thi công.
Các công trình lớn như Hòa Bình, Ialy hay Sơn La thực chất là những “trường học lớn”, nơi đã đào tạo nhiều cán bộ quản lý hay kỹ sư thiết kế, và hình thành một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, có khả năng làm chủ công nghệ và không ngừng đổi mới trong quá trình thi công.
“Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống ngành Công Thương Việt Nam, tôi mong toàn Ngành chúng ta cùng chung sức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền của mình, tiến hành giải quyết nhanh những vấn đề thể chế còn vướng mắc. Sáng suốt, dám nghĩ, dám đề ra các giải pháp đột phá thực hiện để Ngành phát triển toàn diện các trụ cột công nghiệp - thương mại - năng lượng, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu, mạnh và hạnh phúc.”
Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê - Nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng
Theo ông Thái Phụng Nê, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho cấp quản lý hay đội ngũ chuyên gia, mà còn là lan tỏa tinh thần hăng say lao động, tinh thần học hỏi và khuyến khích sáng kiến tới từng công nhân, kỹ thuật viên trực tiếp trên công trường. Nhiều sáng kiến lớn không phải lúc nào cũng xuất phát từ phòng họp hay bàn giấy, mà từ chính những người trực tiếp làm việc ngoài công trường.
Chính quá trình không ngừng tìm tòi, cải tiến thiết bị, đổi mới biện pháp thi công và tối ưu tổ chức sản xuất tại công trường đã giúp nhiều dự án rút ngắn tiến độ, nâng cao hiệu quả và tiết kiệm rất lớn cho đất nước.
Ông nhiều lần nhấn mạnh tới tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của các thế hệ đi trước. Từ việc quyết định thay đổi công nghệ đào hầm ở Ialy, áp dụng bê tông đầm lăn tại Sơn La cho tới việc mạnh dạn điều chỉnh thiết kế tổ máy để rút ngắn tiến độ, tất cả đều cho thấy vai trò của tư duy đổi mới và bản lĩnh tổ chức thực hiện.
Theo ông, trong giai đoạn phát triển mới, khi ngành Năng lượng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi sâu rộng hơn bao giờ hết, yếu tố con người và tinh thần đổi mới sẽ tiếp tục là nền tảng quan trọng để Việt Nam xây dựng một hệ thống năng lượng hiện đại, tự chủ và bền vững.
Từ những công trình thủy điện đầu tiên trong giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn cho tới bài toán chuyển dịch năng lượng và phát triển xanh hiện nay, hành trình của ngành Năng lượng Việt Nam, theo Anh hùng Lao động Thái Phụng Nê, thực chất là hành trình xây dựng năng lực phát triển quốc gia. Ngoài những con số kỹ thuật, mỗi công trình năng lượng đều mang trong mình dấu ấn của một giai đoạn phát triển, phản ánh năng lực tổ chức thực hiện, khả năng làm chủ công nghệ và khát vọng công nghiệp hóa của Việt Nam qua từng thời kỳ.
Ở góc độ rộng hơn, câu chuyện năng lượng cũng phản ánh con đường phát triển của đất nước. Bởi trong một thế giới mà cạnh tranh quốc gia ngày càng gắn chặt với năng lực bảo đảm năng lượng, điều quyết định không chỉ là có bao nhiêu nguồn điện, bao nhiêu đường dây và trạm biến áp, mà là khả năng quy hoạch dài hạn, làm chủ công nghệ, tổ chức thực hiện và xây dựng được năng lực nội sinh, tự chủ cho nền kinh tế.