Chuyển đổi xanh ngành Giấy: Cần gỡ các điểm nghẽn và cơ chế tạo động lực thúc đẩy
18/07/2026 lúc 08:30 (GMT)

Chuyển đổi xanh ngành Giấy: Cần gỡ các điểm nghẽn và cơ chế tạo động lực thúc đẩy

Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe và chuỗi cung ứng toàn cầu bước vào giai đoạn tái cấu trúc, chuyển đổi xanh đã trở thành điều kiện để ngành Giấy Việt Nam duy trì năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, khoảng cách về công nghệ, nguồn lực và cơ chế chính sách vẫn là những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ để tạo động lực phát triển trong giai đoạn tới.

ngành Giấy

Thực trạng công nghệ của ngành Giấy Việt Nam hiện nay đang tồn tại sự phân cực rõ rệt, chia làm hai mảng màu đối lập.Trong đó nhóm tiên phong dẫn đầu là các doanh nghiệp lớn và khối FDI (Chiếm khoảng 65% sản lượng, nhưng số lượng chỉ khoảng 20 doanh nghiệp). Nhóm này sở hữu các dây chuyền mới đầu tư trong vòng 5 năm trở lại đây, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế với công nghệ nấu liên tục, tẩy trắng không Clo nguyên tố (ECF). Đồng thời các nhà máy của các doanh nghiệp thuộc nhóm này vận hành hệ thống tuần hoàn nước khép kín; tận dụng phụ phẩm để làm nhiên liệu lò hơi sinh khối (biomass). Đối nghịch với nhóm tiên phong này là nhóm các doanh nghiệp nhỏ và vừa và siêu nhỏ (SMEs/MSMEs) chiếm tới hơn 90% số lượng doanh nghiệp toàn Ngành. Đây cũng chính là "gót chân Achilles" của Ngành. Đại đa số nhóm này vẫn vận hành các dây chuyền cũ, lạc hậu và đầu tư thiếu đồng bộ. Hệ quả tất yếu là định mức tiêu hao điện, nước, hóa chất quá cao, đẩy chi phí vận hành lên cao và làm suy giảm nghiêm trọng năng lực cạnh tranh.

Cụ thể theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA) cho biết hiện Ngành tạm chia ra 3 nhóm DN theo quy mô sản lượng là: nhóm DN có quy mô sản lượng dưới 50.000 tấn/năm, nhóm DN có quy mô sản lượng trên 50.000 tấn/năm đến dưới 100.000 tấn/năm và nhóm DN có quy mô sản lượng từ 100.000 tấn/năm trở lên. Trong đó nhóm DN có quy mô sản lượng dưới 50.000 tấn/năm: nếu là các DN sản xuất giấy bao bì, in – viết thì thường là các dây chuyền sản xuất cũ, thậm chí lạc hậu, đầu tư thiếu đồng bộ, khó nâng cấp để chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ (Quy mô này chỉ phù hợp với các DN sản xuất giấy Tissue- Vệ sinh hoặc các loại giấy đặc chủng, đặc biệt như giấy bao gói thực phẩm, giấy cho lò nướng, giấy in nhiệt, giấy in chuyển nhiệt, … vẫn áp dụng được công nghệ mới, sản xuất xanh và chuyển đổi số).

hình ảnh về phác thảo nhà máy giấy hiện đại, thân thiện môi trường

Với nhóm DN có quy mô sản lượng trên 50.000 tấn/năm đến dưới 100.000 tấn/năm: hầu hết là các DN sản xuất giấy bao bì và giấy in – viết với công nghệ và máy móc thiết bị được đầu tư khá đồng bộ trong vòng 15 năm trở lại đây, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, hiện đang hoạt động hiệu quả, nhưng sẽ nhiều hạn chế khi thực hiện chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong thời gian tới.

Với nhóm DN có quy mô sản lượng từ 100.000 tấn/năm trở lên là nhóm DN có dây chuyển sản xuất được đầu tư chủ yếu trong 05 năm trở lại đây trong lĩnh vực giấy bao bì (trừ một số DN FDI đầu tư sớm hơn) được đầu tư đồng bộ với công nghệ mới, đảm bảo tốt các tiêu chuẩn xanh, bảo vệ môi trường, đồng thời cũng đã và đang tích cực áp dụng chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn cùng các giải pháp tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, đẩy mạnh sử dụng nguyên liệu tái chế và năng lượng tái tạo.

ngành Giấy

Thời gian qua, ngành Công nghiệp Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA) đã chứng kiến giai đoạn bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng, năng lực sản xuất có thời điểm vượt ngưỡng 10%/năm. Cụ thể theo VPPA riêng năm 2025 tổng sản lượng sản xuất giấy đạt 6,34 triệu tấn; tổng tiêu dùng giấy ước đạt 7,77 triệu tấn, tăng 10,8% so với năm 2024. Trong đó, giấy bao bì chiếm hơn 80% tổng sản lượng toàn Ngành. Những tháng đầu năm 2026, dù phải đối diện với áp lực chi phí và sự điều chỉnh trong cấu trúc thương mại quốc tế Ngành ghi nhận sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng trong nước. Cụ thể 3 tháng đầu năm nay giấy bao bì và giấy tissue đều tăng trưởng ở mức hơn 10%. Cùng với sự phục hồi của các ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thương mại điện tử, xu hướng này được nhận định sẽ tiếp tục dẫn dắt Ngành trong giai đoạn tiếp theo.

các quy định về môi trường đối với ngành Giấy

 

Tuy nhiên thời gian qua các doanh nghiệp ngành Giấy cũng phải chịu không ít thách thức từ những bất ổn địa chính trị làm tăng chi phí vận tải biển và thời gian lưu kho, gây đứt gãy cục bộ nguồn cung vật tư, hóa chất, áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm giá rẻ trong khu vực… Cùng với đó hàng loạt quy chuẩn mới khắt khe hơn trong bảo vệ môi trường đang ngày càng siết chặt biên độ hoạt động của các doanh nghiệp ngành Giấy. Ở trong nước là những quy định liên quan đến Giấy phép Môi trường (GPMT) hạn chót để chuyển đổi sang GPMT tích hợp là ngày 01/01/2027. Quy chuẩn chung mới QCVN 40:2025/BTNMT về nước thải công nghiệp với các chỉ số nghiêm ngặt về COD, BOD, TSS và hợp chất AOX (từ quá trình tẩy trắng bột giấy)…đặt ra áp lực bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cấp hệ thống để tuân thủ, đáp ứng các quy định.

Tại sân chơi toàn cầu, Ngành đồng thời chịu các áp lực từ các hàng rào kỹ thuật như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) từ các thị trường xuất khẩu lớn (EU, Mỹ) đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch chuỗi cung ứng và kiểm kê khí nhà kính định kỳ. Thực tế trong ngành Giấy, phân khúc giấy bao bì (chiếm hơn 80% sản lượng toàn Ngành, cũng đồng thời là lĩnh vực đi cùng với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam).Những thách thức thời gian qua cho thấy các doanh nghiệp ngành Giấy nếu không kịp đầu tư vào công nghệ tối ưu hóa chi phí vận hành, đồng thời thân thiện hơn với môi trường sẽ khó duy trì khả năng cạnh tranh có thể đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế.

nói về ngành Giấy
ngành Giấy

Chuyển đổi xanh và số đã trở thành yêu cầu tất yếu để các DN nói chung bao gồm ngành Giấy tồn tại và phát triển bền vững. Thực tế theo các chuyên gia trạng thái "hiệu suất cao, thân thiện môi trường" sẽ là hướng đi tất yếu mà ngành phải hướng đến. Để đạt được trạng thái này, Ngành bắt buộc phải tái cấu trúc toàn diện sản xuất bằng các công nghệ hiện đại cũng được nhận định là tương đối đắt đỏ như bể xử lý nước thải kỵ khí (UASB, ABR) áp dụng giải pháp thu hồi khí sinh học hay xa hơn là hệ thống kiểm soát thông minh...Tuy nhiên thực tế hiện chi phí cũng như năng lực thích ứng cho việc dịch chuyển này cũng đang chính là thách thức, rào cản cốt lõi đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng phải chuyển đổi của Ngành (các doanh nghiệp vừa và nhỏ và siêu nhỏ).

Theo VPPA, chi phí cũng như năng lực thích ứng cho việc dịch chuyển này thực sự là các thách thức không nhỏ đối với các DN ngành giấy Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh địa chính trị diễn biến phức tạp và cạnh tranh hết sức gay gắt hiện nay. Bởi việc chuyển đổi này đòi hỏi phải áp dụng công nghệ mới, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu cực kỳ khổng lồ. Từ máy xeo giấy tốc độ cao cho đến trạm xử lý nước thải đạt chuẩn…song song với là nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp để vận hành, trong khi người tiêu dùng hầu hết chưa sẵn sàng chi trả thêm cho các sản phẩm xanh. Chưa kể đến là phần lớn doanh nghiệp giấy trong nước chưa thực hiện IPO, điều này khiến việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù Việt Nam đã có các quy định liên quan đến các nguồn "tín dụng xanh" hay ưu đãi về thuế, đất đai nhưng hiện doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận một cách đồng bộ và đầy đủ.

ngành Giấy

Tại Hội nghị toàn thể Hội viên Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam tổ chức tháng 5 vừa qua, ông Hoàng Trung Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam chia sẻ, các DN ngành Giấy cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào cơ hội sang mô hình dựa vào năng lực để nâng cao khả năng chống chịu, tồn tại qua các cú sốc, đồng thời có thể tìm thấy cơ hội ngay trong những biến động. Chủ tịch VPPA nhấn mạnh bên cạnh việc xây dựng các kịch bản và tích hợp yếu tố rủi ro vào quyết định đầu tư, quản trị, thường xuyên theo dõi sát các diễn biến địa chính trị; Xác định rõ sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và năng lực cốt lõi, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững và chuyển đổi linh hoạt (mô hình Agile)…các doanh nghiệp cần tích cực triển khai chuyển đổi xanh, thực hành ESG, chuyển đổi số và nghiên cứu sáng tạo, áp dụng công nghệ mới.

ngành Giấy

Thực tế nhiều nghiên cứu đã cho thấy ngành Giấy là ngành có tiềm năng mô hình kinh tế tuần hoàn rất cao nhờ tái chế giấy phế liệu (giấy thu hồi). Tuy nhiên, tại Việt Nam việc tái chế giấy bị nghẽn ở nguồn cung đầu vào cả thu gom trong nước lẫn phế liệu nhập khẩu. Cụ thể tại nội địa, tỷ lệ thu gom trong nước hiện chưa tới 60% (so với mức trên 80% ở các nước phát triển) do hệ thống thu gom manh mún, nhỏ lẻ, thiếu hóa đơn chứng từ hợp lệ. Với nguồn nhập khẩu, doanh nghiệp phải nhập khẩu hơn 3,5 triệu tấn giấy phế liệu mỗi năm. Tuy nhiên, các quy định ký quỹ bảo vệ môi trường từ 15% – 20% giá trị lô hàng đang khiến hàng nghìn tỷ đồng vốn lưu động của doanh nghiệp bị giữ lại, làm giảm sức cạnh tranh quốc tế.

Đặc biệt theo VPPA ngành Giấy đang lãng phí hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm do thiếu hành lang pháp lý để tự tái chế, chuyển hóa bùn thải và rác ngành giấy (vốn có nhiệt lượng rất cao: bùn đạt 0.71 Gcal/tấn, rác đạt 2.35 Gcal/tấn) thành năng lượng tại chỗ, thay vào đó phải mất thêm chi phí 600.000 – 1.000.000 VND/tấn để thuê bên thứ ba chôn lấp hoặc đốt bỏ…Bên cạnh đó sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao cũng sẽ là rủi ro khi tích hợp công nghệ AI, hệ thống sản xuất MES, IoT và tự động hóa thế hệ mới (Đội ngũ kỹ sư và công nhân hiện tại chưa được trang bị kịp thời kỹ năng số để vận hành) trong bước chuyển đổi tái cơ cấu lại sản xuất theo hướng xanh và số.

 

Để gỡ điểm nghẽn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh, VPPA đề xuất, cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý chất thải” sang “quản lý tài nguyên tuần hoàn”.

Cụ thể với ngành giấy, giấy thu hồi, bùn giấy, tro xỉ sinh khối, nước sau xử lý và một số phụ phẩm sản xuất nếu đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật cần được xác định rõ là nguyên liệu, vật liệu đầu vào cho sản xuất thay vì tiếp tục quản lý như chất thải thông thường. Việc này cho phép doanh nghiệp tự tái chế thành năng lượng tại chỗ và tái sử dụng tuần hoàn nguồn nước nội bộ, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, và giảm áp lực chôn lấp chất thải.Bởi hiện nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn do chưa có tiêu chí, danh mục và cơ chế pháp lý rõ ràng cho việc lưu thông, tái sử dụng hoặc tái chế các nguồn tài nguyên này.

Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định và quy chuẩn kỹ thuật cụ thể đối với hoạt động tái sử dụng nước thải sau xử lý. Hiện nhiều doanh nghiệp giấy đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải hiện đại, nước sau xử lý đạt quy chuẩn nhưng vẫn chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng để tái sử dụng cho tuần hoàn sản xuất, tưới cây, rửa đường hoặc các mục đích nội bộ khác. Điều này gây lãng phí tài nguyên nước và làm giảm hiệu quả đầu tư công nghệ môi trường của doanh nghiệp.

VPPA cũng kiến nghị sớm bổ sung cơ chế các ưu đãi tương xứng về tín dụng xanh, thuế, đất đai hoặc cơ chế thị trường carbon khuyến khích cụ thể đối với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu tái chế, nhiên liệu sinh khối, năng lượng sạch và công nghệ giảm phát thải…bởi chi phí đầu tư cho chuyển đổi công nghệ môi trường là rất lớn;

Đồng thời kiến nghị chuyển từ "Tiền kiểm" sang "Hậu kiểm" hành chính: Cắt giảm các thủ tục chồng chéo giữa ĐTM và Giấy phép môi trường khi doanh nghiệp chủ động thay đổi công nghệ theo hướng xanh hơn. Giảm tần suất thanh tra, kiểm tra với các cơ sở đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên thông dữ liệu để doanh nghiệp tập trung nguồn lực đầu tư xanh thực chất.

Xanh hóa ngành Giấy không đơn thuần là câu chuyện mua sắm máy móc hay lắp đặt thêm một vài bộ lọc. Đó là một chiến lược tổng thể từ số hóa quy trình, tối ưu nguồn nguyên liệu tuần hoàn đến việc nâng cao kỹ năng cho người lao động. Khi những rào cản về cơ chế pháp lý được tháo gỡ kịp thời, ngành Giấy Việt Nam mới có thể tự tin loại bỏ định kiến "ngành công nghiệp ô nhiễm", khẳng định vị thế một mắt xích xanh vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

ngành Giấy
          

Bài: Quang Minh - Mạnh Hà
Ảnh: Minh Vy
Thiết kế: Duy Kiên