(Emagazine) Chính sách hỗ trợ sinh kế: Đòn bẩy khơi dậy nội lực cho đồng bào dân tộc thiểu số TP. Hồ Chí Minh
Từ một mái nhà ổn định, một khóa học nghề, nguồn vốn để phát triển sản xuất đến cơ hội đưa sản phẩm lên môi trường số, những chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tại TP.HCM đang dần được chuyển hóa thành những hỗ trợ cụ thể. Cách tiếp cận cũng thay đổi: không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn trước mắt mà hướng tới tạo sinh kế lâu dài, khơi dậy nội lực và giúp những sản phẩm mang bản sắc cộng đồng có cơ hội bước ra thị trường.

TP.HCM hiện có hơn 570.000 đồng bào thuộc 53 dân tộc đang sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn Thành phố. Mỗi cộng đồng, mỗi khu vực có một đặc điểm sinh kế khác nhau, từ nông nghiệp, nghề biển đến kinh doanh, thương mại, dịch vụ, ẩm thực và các nghề gắn với văn hóa truyền thống.
Cộng đồng người Hoa tập trung đông tại khu vực Chợ Lớn, Bình Tây và một số địa bàn thuộc các quận 5, 6, 10, 11 trước đây, với thế mạnh lâu đời về kinh doanh, buôn bán và dịch vụ. Ở xã Phú Giáo, đồng bào Khmer có 281 hộ với 1.116 nhân khẩu, sinh sống chủ yếu tại Tân Thịnh và Nước Vàng. Nhiều lao động đã được tiếp cận các lớp đào tạo nghề như may mặc, cắt tóc, chăm sóc cây kiểng, nấu ăn để mở rộng cơ hội việc làm.
Tại xã Long Hải, 120 hộ với 560 nhân khẩu người Khmer chủ yếu sống bằng nghề biển, làm thuê và buôn bán nhỏ. Ở xã Minh Thạnh, cộng đồng người Chăm tập trung đông tại ấp Hòa Lộc, sinh kế khá đa dạng: trồng cao su, điều, mì, làm công nhân, buôn bán và dịch vụ. Còn tại phường Chánh Hưng, cộng đồng Chăm Islam quanh khu vực Dương Bá Trạc có nhiều hộ buôn bán nhỏ, chế biến các món ăn Halal truyền thống.
Ở khu vực phía Đông Thành phố, đồng bào Châu Ro sinh sống tại các xã như Bàu Lâm, Kim Long, Châu Pha, Đất Đỏ… Đời sống của bà con lâu nay gắn nhiều với sản xuất nông nghiệp. Một số địa phương đang từng bước khai thác thêm nông sản, ẩm thực, dệt thổ cẩm, cồng chiêng và các giá trị văn hóa bản địa để phát triển du lịch cộng đồng, tạo thêm sinh kế.
Những khác biệt ấy cho thấy chính sách không thể áp theo một công thức chung. Mỗi địa bàn, mỗi cộng đồng cần một cách hỗ trợ phù hợp với nghề nghiệp và điều kiện sống của mình.


Phát biểu tại Chương trình họp mặt đồng bào tiêu biểu các dân tộc thiểu số TP.HCM ngày 6/3/2026, bà Trương Thị Bích Hạnh, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM nhấn mạnh: “TP Hồ Chí Minh luôn tự hào là nơi hội tụ, kết nối và lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; là nơi mỗi người dân, dù đến từ vùng miền, dân tộc nào, đều chung một tấm lòng hướng về thành phố, cùng nhau vun đắp cho sự phồn vinh, nghĩa tình”.
Tinh thần ấy cũng được cụ thể hóa bằng cách Thành phố tiếp cận chính sách dân tộc ngày càng sát với nhu cầu của từng cộng đồng, từng địa bàn và từng hộ dân. Bởi phía sau những đặc điểm sinh kế khác nhau là những nhu cầu rất khác nhau về vốn, nghề nghiệp, nhà ở, giáo dục, việc làm và thị trường.
Thành phố hiện có 70 hộ nghèo và 776 hộ cận nghèo có thành viên là người dân tộc thiểu số. Thay vì áp một gói hỗ trợ giống nhau cho tất cả, các cơ quan chức năng rà soát từng hộ: hộ thiếu vốn thì kết nối nguồn vốn; hộ thiếu nghề thì hỗ trợ đào tạo và việc làm; trường hợp khó khăn về y tế, giáo dục, nhà ở được tiếp cận chính sách tương ứng.

Theo ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo TP.HCM, Thành phố đang chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang “kiến tạo sinh kế”. Hiệu quả của chính sách vì vậy không chỉ được đo bằng kinh phí đã bố trí hay số hồ sơ đã giải quyết, mà phải nhìn vào thu nhập, mức độ hài lòng và khả năng tự chủ của từng hộ gia đình.
Cách tiếp cận ấy thể hiện khá rõ tại Long Hải. Tháng 4/2026, Sở Dân tộc và Tôn giáo TP.HCM trực tiếp khảo sát đời sống đồng bào Khmer tại địa bàn này. Phần lớn bà con làm nghề biển, làm thuê hoặc buôn bán nhỏ, thu nhập bình quân khoảng 3 triệu đồng/người/tháng. Điều người dân đề xuất cũng rất cụ thể: cần vốn, cần phương tiện sản xuất, cần hỗ trợ để ổn định sinh kế.
Sau khảo sát, địa phương được đề nghị tiếp tục rà soát từng trường hợp để có phương án phù hợp. Khoảng cách từ chính sách đến cuộc sống vì thế được đo bằng những thay đổi rất gần gũi: một người có nghề, một hộ có thêm nguồn thu, một gia đình bớt phụ thuộc vào trợ giúp.


Trong hành trình hình thành một sinh kế ổn định, vốn luôn là điều kiện quan trọng. Từ ngày 1/1/2026, Nghị quyết số 71/2025/NQ-HĐND của HĐND TP.HCM về chính sách cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác chính thức có hiệu lực. Đây là chính sách chung của Thành phố, nhưng những hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện đủ điều kiện có thể tiếp cận nguồn lực này.
Theo Nghị quyết, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng có thể vay tối đa 200 triệu đồng/hộ từ nguồn ngân sách Thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội; lãi suất trong hạn là 0,5%/tháng. Chính sách cũng dành nguồn vốn cho người lao động tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm.
Nhưng chỉ có vốn chưa đủ. Nếu thiếu kỹ năng, kiến thức kinh doanh và đầu ra, khoản vay vẫn khó trở thành một sinh kế bền vững.

Bởi vậy, điểm đáng chú ý của giai đoạn mới là vốn được đặt trong một chuỗi hỗ trợ rộng hơn. Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 25/6/2026 của UBND TP.HCM về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2026-2030 dành riêng một hợp phần cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với các nội dung từ đầu tư hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập đến phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Với lớp trẻ, Kế hoạch số 318/KH-UBND giai đoạn 2026-2031 đối với học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số cũng xác định phát triển sinh kế bền vững thông qua sản xuất nông nghiệp, Chương trình OCOP; hỗ trợ hình thành sản phẩm hàng hóa, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi số và thị trường tiêu thụ.

ó cũng là cách nhìn ngày càng rõ trong các chính sách sinh kế: đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi kỹ năng có thể đổi thành việc làm và thu nhập.
Cùng với vốn và đào tạo nghề, chuyển đổi số đang mở thêm một hướng phát triển. Các hộ kinh doanh, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất và nghề truyền thống của đồng bào được định hướng hỗ trợ tiếp cận thương mại điện tử, đưa sản phẩm lên các nền tảng trực tuyến để mở rộng thị trường.
Với những sản phẩm vốn chỉ bán trong khu dân cư hoặc phụ thuộc vào khách quen, không gian số có thể mở thêm một cánh cửa. Nhưng người dân vẫn cần kỹ năng giới thiệu sản phẩm, xử lý đơn hàng, đóng gói, vận chuyển, thanh toán và chăm sóc khách hàng.
Cùng với đó là yêu cầu chuẩn hóa sản phẩm về chất lượng, an toàn, bao bì, nhãn mác, nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định nếu muốn bước vào hệ thống bán lẻ.
TP.HCM cũng định hướng khai thác phù hợp các giá trị về nghệ thuật, lễ hội, ẩm thực, sản phẩm đặc trưng của cộng đồng Hoa, Khmer, Chăm… để phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ. Theo cách đó, bản sắc không chỉ là giá trị cần gìn giữ mà còn có thể trở thành một phần giá trị của hàng hóa và sinh kế.
Vì vậy, một chính sách tốt không nên dừng ở câu hỏi “đã hỗ trợ bao nhiêu”, mà cần đi xa hơn: sau hỗ trợ, người dân có làm được nghề không, có tạo ra sản phẩm không, có bán được hàng không và có đủ khả năng tự đứng vững hay không.


Nếu vốn, đào tạo nghề và hỗ trợ sản xuất giúp người dân làm ra sản phẩm, thì thị trường quyết định sinh kế ấy có thể duy trì lâu dài hay không. Đây cũng là điểm vai trò của ngành Công Thương trở nên rõ nét trong hành trình đưa chính sách vào cuộc sống.
Trong Kế hoạch 320/KH-UBND, Sở Công Thương TP.HCM được giao chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường triển khai các hoạt động kết nối cung - cầu, hỗ trợ tiêu thụ nông sản qua hệ thống phân phối hiện đại và sàn thương mại điện tử; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong thương mại, dịch vụ khu vực nông thôn.
Với các hộ sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã và cơ sở kinh doanh của đồng bào dân tộc thiểu số, đây là mắt xích quan trọng để sản phẩm vượt ra khỏi phạm vi tiêu thụ nhỏ lẻ. Người dân không chỉ cần làm ra sản phẩm, mà còn phải hiểu thị trường cần gì, sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn nào và đâu là kênh phân phối phù hợp.
Thành phố cũng xác định đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá nông sản và sản phẩm OCOP thông qua hội chợ, triển lãm, tuần lễ nông sản; hỗ trợ tham gia sàn thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, bao bì và tem nhãn. Qua đó, thông tin từ thị trường có thể quay trở lại định hướng sản xuất, giúp người dân điều chỉnh chất lượng, mẫu mã và năng lực cung ứng.
Cùng với kết nối thị trường, chính sách khuyến công mở thêm nguồn lực để các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn nâng cấp sản phẩm. Theo Nghị quyết số 48/2025/NQ-HĐND, hộ kinh doanh đủ điều kiện có thể được hỗ trợ 50% chi phí ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, tối đa 300 triệu đồng/cơ sở; trường hợp đầu tư dây chuyền công nghệ, mức hỗ trợ tối đa 450 triệu đồng/cơ sở.

Chính sách cũng hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, tư vấn marketing, thiết kế mẫu mã, bao bì, ứng dụng công nghệ và tham gia hội chợ, triển lãm. Với một cơ sở nhỏ, những hỗ trợ này có thể tạo ra bước chuyển rõ rệt: máy móc giúp nâng năng suất, bao bì và nhãn hiệu giúp sản phẩm chuyên nghiệp hơn, còn xúc tiến thương mại mở thêm cơ hội tiếp cận khách hàng và nhà phân phối.
Từ góc độ đó, ngành Công Thương góp phần nối các mắt xích từ sản xuất, tiêu chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu đến phân phối và thị trường. Nếu chính sách dân tộc giúp xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, chính sách sinh kế tạo điều kiện để người dân có nghề, có vốn và có sản phẩm, thì ngành Công Thương góp phần giải quyết một mắt xích có tính quyết định: sản phẩm làm ra bán ở đâu, bán cho ai và làm thế nào để thị trường tiếp tục lựa chọn.
Khi các mắt xích ấy được nối liền, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước mới có thể chuyển hóa thành thu nhập bền vững cho người dân.
Và khi một hộ có thể tự tạo việc làm, một sản phẩm mang bản sắc dân tộc tìm được thị trường mới, một người trẻ có thể sống bằng nghề của mình, thì chính sách cũng không còn nằm trên giấy. Nó hiện diện bằng những thay đổi rất cụ thể: một công việc ổn định hơn, một sản phẩm bán được tốt hơn và một sinh kế có khả năng tự đứng vững lâu dài.

Thực hiện: Phương Thúy
Thiết kế: Đinh Hương
Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI
