[eMagazine] Đưa lợi thế chỉ dẫn địa lý thành giá trị thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Chỉ dẫn địa lý tạo lợi thế, nhưng thị trường mới quyết định giá trị của sản phẩm. Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chính sách hỗ trợ sau bảo hộ đang tập trung nâng chất lượng, năng lực chủ thể và khả năng tiếp cận thị trường.

Ở nhiều vùng miền núi, giá trị của sản phẩm gắn chặt với điều kiện tự nhiên, vùng nguyên liệu, phương thức sản xuất và tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chỉ dẫn địa lý giúp xác lập, bảo vệ những yếu tố tạo nên sự khác biệt đó, đồng thời cung cấp căn cứ để người mua nhận biết nguồn gốc và danh tiếng của sản phẩm.
Chính sách phát triển tài sản trí tuệ cũng đặt yêu cầu khai thác giá trị sau bảo hộ. Quyết định số 2205/QĐ-TTg về Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 gắn phát triển chỉ dẫn địa lý với kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển chuỗi giá trị và xúc tiến thương mại. Như vậy, văn bằng bảo hộ mới tạo nền tảng; giá trị của chỉ dẫn địa lý chỉ thực sự được phát huy khi lợi thế về nguồn gốc, chất lượng và danh tiếng được chuyển thành năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, một số sản phẩm sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã ghi nhận mức tăng giá trị đáng kể: mật ong bạc hà Mèo Vạc tăng gấp đôi; cam Cao Phong, cam Vinh tăng hơn 50%; bưởi Phúc Trạch, nước mắm Phú Quốc tăng từ 30-50%.
Những kết quả này cho thấy khả năng tạo giá trị của chỉ dẫn địa lý, nhưng cũng đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả sau bảo hộ. Để duy trì mức giá, mở rộng khách hàng và đi vào các kênh phân phối, sản phẩm còn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhận diện thương hiệu và tiêu chuẩn của từng thị trường.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu này càng rõ khi nhiều chủ thể có lợi thế về vùng nguyên liệu và giá trị bản địa nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, năng lực quản trị, tiếp thị và tiếp cận hệ thống phân phối chưa đồng đều. Vì vậy, hỗ trợ sau bảo hộ cần hướng tới khả năng khai thác tài sản đã được xác lập, để chỉ dẫn địa lý không dừng ở dấu hiệu nhận diện mà thực sự góp phần nâng giá trị sản phẩm.

Chỉ dẫn địa lý gắn với một khu vực địa lý và được nhiều chủ thể đủ điều kiện cùng sử dụng. Bởi vậy, uy tín của sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào từng cơ sở mà còn vào khả năng duy trì chất lượng chung của cả vùng sản xuất.
Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, một chủ thể không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm hoặc không tuân thủ quy trình có thể ảnh hưởng tới uy tín chung. Vì thế, khai thác chỉ dẫn địa lý sau bảo hộ phải gắn với tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và nâng năng lực của doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất.

Đây cũng là khâu cần sự phối hợp giữa các chính sách hỗ trợ. Vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc tạo nền cho chất lượng; quản lý sở hữu trí tuệ bảo vệ tài sản chung; còn thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, kết nối phân phối và thương mại điện tử giúp sản phẩm tiếp cận người mua. Doanh nghiệp, hợp tác xã là chủ thể kết nối các khâu này thành hoạt động sản xuất - kinh doanh thực tế.
Tại Gia Lai, sau khi chỉ dẫn địa lý “Gia Lai” được cấp cho sản phẩm cà phê, năm 2026 địa phương tiếp tục triển khai nhiệm vụ quản lý, khai thác và phát triển chỉ dẫn địa lý cho cà phê phục vụ xuất khẩu. Cùng với đó là các hoạt động kết nối cung - cầu, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, ứng dụng thương mại điện tử và chuyển đổi số. Việc tiếp tục đầu tư cho khâu khai thác cho thấy trọng tâm không dừng ở xác lập quyền mà hướng tới sử dụng chỉ dẫn địa lý để hỗ trợ sản phẩm tiếp cận thị trường.

Thực tế từ doanh nghiệp cho thấy thị trường đòi hỏi nhiều hơn một chứng nhận về xuất xứ. Ông Phan Bá Kiên, Giám đốc Công ty TNHH Baka, cho biết khi tiếp cận thị trường Nhật Bản, đối tác yêu cầu rất cụ thể về vùng trồng, số vụ sản xuất và độ tuổi khai thác của cây cà phê. Doanh nghiệp đã sử dụng thông tin gắn với chỉ dẫn địa lý “Gia Lai” để làm rõ nguồn gốc, vùng sản xuất và đưa sản phẩm vào thị trường này bằng đường chính ngạch. Trường hợp này cho thấy, chỉ dẫn địa lý có thể trở thành một lợi thế tiếp cận thị trường nếu doanh nghiệp đủ khả năng chứng minh nguồn gốc và duy trì chất lượng một cách nhất quán. Khai thác chỉ dẫn địa lý vì thế không chỉ là câu chuyện của riêng khâu bảo hộ.
Ông Đào Đức Huấn cho biết, các chính sách hỗ trợ đang được lồng ghép từ phát triển vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, bao bì, nhãn mác đến tiếp cận thị trường. Trong đó, ngành khoa học và công nghệ hỗ trợ về tài sản trí tuệ, ngành nông nghiệp gắn với tổ chức sản xuất, còn ngành Công Thương đảm nhiệm vai trò xúc tiến thương mại và kết nối thị trường.

Khi nền tảng về nguồn gốc, chất lượng và năng lực của chủ thể từng bước được củng cố, khâu tiếp theo là đưa sản phẩm đến đúng thị trường. Đây cũng là điểm các chính sách của ngành Công Thương tiếp tục nối vào chuỗi hỗ trợ, từ cung cấp thông tin thị trường, nâng cao năng lực xúc tiến đến kết nối nhà mua hàng và hệ thống phân phối.
Bà Hà Kiều Oanh thông tin, trong thời gian tới, việc khai thác giá trị thương mại của sản phẩm có chỉ dẫn địa lý sẽ được đặt trong tổng thể các hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thương hiệu. Một hướng hỗ trợ quan trọng là tăng cường cung cấp thông tin, kết nối nhu cầu thị trường thông qua mạng lưới xúc tiến thương mại, các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, hiệp hội ngành hàng và hệ thống phân phối. Song song với đó là nâng cao năng lực cho các chủ thể về xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, bao bì, kỹ năng tiếp cận nhà mua hàng và ứng dụng các công cụ xúc tiến thương mại số.

Đáng chú ý, hướng hỗ trợ này đang được cụ thể hóa bằng những hoạt động mới. Cục Xúc tiến thương mại đang phối hợp với Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng và Sở Công Thương thành phố Cần Thơ triển khai 4 khóa đào tạo về ứng dụng AI trong xây dựng, quản trị thương hiệu và thiết kế bao bì sản phẩm xuất khẩu. Cùng với đào tạo, sản phẩm có chỉ dẫn địa lý đáp ứng yêu cầu về chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc và năng lực của chủ thể sẽ tiếp tục được lồng ghép vào các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối với nhà phân phối và người mua trong và ngoài nước.
Cách tiếp cận này cho thấy hỗ trợ sau bảo hộ đang được nối dài từ việc tạo dựng lợi thế cho sản phẩm đến nâng khả năng khai thác lợi thế đó trên thị trường. Thay vì chỉ đưa sản phẩm tới một hội chợ hay chương trình quảng bá, yêu cầu đặt ra là giúp doanh nghiệp, hợp tác xã xác định nhu cầu thị trường, hoàn thiện năng lực đáp ứng và duy trì được quan hệ với người mua.
Một điểm mới trong năm 2026 cũng củng cố hướng tiếp cận này khi Bộ Công Thương ban hành Hệ thống chỉ tiêu đo lường kết quả, hiệu quả và tác động của hoạt động xúc tiến thương mại, trọng tâm là Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại.

Theo đó, kết quả thị trường được phản ánh qua những chỉ tiêu cụ thể như khách hàng mới, đơn hàng, doanh thu, biên bản ghi nhớ, hợp đồng, sản phẩm được thương mại hóa, đưa vào hệ thống phân phối hoặc xuất khẩu. Hệ thống đồng thời theo dõi riêng số doanh nghiệp thuộc địa bàn khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo tham gia hoạt động xúc tiến thương mại.
Cách đo lường này đưa hoạt động xúc tiến thương mại gần hơn với kết quả kinh doanh thực tế. Với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, điều đó cũng gợi mở yêu cầu đối với chính sách hỗ trợ: không chỉ đưa sản phẩm đến các điểm kết nối mà cần giúp chủ thể tìm đúng khách hàng, đáp ứng yêu cầu của kênh phân phối và từng bước duy trì đầu ra.
Khi thị trường được mở rộng, giá trị tạo ra còn có khả năng quay trở lại vùng sản xuất. Ông Phan Bá Kiên cho biết doanh nghiệp phối hợp với người dân trong canh tác, kiểm soát đất, dư lượng và nâng chất lượng nguyên liệu. Theo ông, mối liên hệ giữa giá trị thị trường và người sản xuất rất trực tiếp.

Đó cũng là giá trị mà chính sách hỗ trợ cần hướng tới: chỉ dẫn địa lý xác lập và bảo vệ lợi thế của vùng sản xuất; tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và năng lực của chủ thể giúp duy trì lợi thế; xúc tiến thương mại, phân phối và các kênh số đưa lợi thế đó ra thị trường. Khi sản phẩm có đầu ra ổn định và giá trị cao hơn, lợi ích mới có điều kiện quay trở lại vùng nguyên liệu và người sản xuất.
Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khai thác chỉ dẫn địa lý vì thế không nên dừng ở bảo hộ. Điều cần thiết là tiếp tục nối các khâu từ quản lý chất lượng, nâng năng lực chủ thể đến thông tin thị trường, xúc tiến, phân phối và chuyển đổi số. Khi những hỗ trợ này được triển khai đồng bộ, lợi thế về nguồn gốc và giá trị bản địa mới có thêm cơ hội chuyển thành giá trị thương mại, góp phần tạo đầu ra bền vững hơn cho sản phẩm và nâng thu nhập cho người sản xuất.
Bài: Hà Đan
Thiết kế: An Nguyễn
Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI
