[Emagazine] Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả: Cần chuyển đổi từ tư duy “tiết kiệm điện” sang “nâng cao năng suất năng lượng quốc gia”
11/09/2026 lúc 13:01 (GMT)

[Emagazine] Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả: Cần chuyển đổi từ tư duy “tiết kiệm điện” sang “nâng cao năng suất năng lượng quốc gia”

 

 

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, đẩy mạnh công nghiệp hóa, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng nhanh. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng nguồn cung mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong toàn nền kinh tế, đặc biệt ở khu vực công nghiệp. Bài viết phân tích vấn đề tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả dưới góc độ kinh tế, coi đây là một hình thức nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất, cải thiện sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng xanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở nhận diện các rào cản về vốn, quản trị, thông tin và cơ chế thị trường, bài viết đề xuất phát triển thị trường dịch vụ năng lượng, tín dụng xanh, chuẩn hóa đo lường - xác minh, phát huy vai trò của Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và đưa năng suất năng lượng trở thành một chỉ tiêu quản trị quan trọng của doanh nghiệp.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, điện khí hóa giao thông, phát triển trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang làm nhu cầu điện của Việt Nam tăng nhanh. Trong điều kiện đó, bảo đảm đủ năng lượng cho sản xuất và đời sống là một trong những điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, an ninh năng lượng không thể chỉ được giải quyết bằng việc liên tục mở rộng nguồn cung. Nếu nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng cường độ sử dụng năng lượng vẫn ở mức cao thì nhu cầu đầu tư vào nguồn điện, lưới điện, nhiên liệu và hạ tầng liên quan sẽ ngày càng lớn.

Do đó, bên cạnh câu hỏi “nền kinh tế cần thêm bao nhiêu năng lượng?”, cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng hơn về chất lượng tăng trưởng: với mỗi đơn vị năng lượng đang sử dụng, nền kinh tế tạo ra được bao nhiêu giá trị gia tăng? Đây chính là cách tiếp cận của năng suất năng lượng.

Tiết kiệm năng lượng theo nghĩa hiện đại không phải là giảm sản lượng, hạn chế nhu cầu chính đáng của người dân hay làm giảm điều kiện làm việc của người lao động. Bản chất của nó là sử dụng ít năng lượng hơn để tạo ra cùng một lượng sản phẩm, hoặc với cùng lượng năng lượng có thể tạo ra nhiều giá trị hơn. Vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được đặt trong tổng thể chính sách nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thay vì chỉ được xem là một hoạt động vận động mang tính thời điểm.

Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đã đặt mục tiêu đến năm 2030 tiết kiệm khoảng 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển thông thường. Điều này cho thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đã trở thành một cấu phần quan trọng trong chính sách phát triển quốc gia.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Khu vực công nghiệp hiện chiếm trên 50% tổng tiêu thụ năng lượng của Việt Nam. Theo các đánh giá của Bộ Công Thương, tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp có thể đạt khoảng 20-30%, trong khi tại các công trình xây dựng có thể đạt khoảng 30-35%. Đây là nguồn dư địa rất lớn xét trên cả bình diện doanh nghiệp lẫn nền kinh tế. Một doanh nghiệp mỗi năm chi 100 tỷ đồng cho điện, than, khí và các dạng năng lượng khác, nếu giảm được 10% mức tiêu hao mà không làm giảm sản lượng thì có thể tiết kiệm khoảng 10 tỷ đồng. Khoản tiết kiệm này tác động trực tiếp đến lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp có biên lợi nhuận 5%, để tạo thêm 10 tỷ đồng lợi nhuận thông qua tăng doanh thu có thể phải bán thêm tới 200 tỷ đồng sản phẩm.

Trong khi đó, giảm được 10 tỷ đồng chi phí năng lượng có thể đem lại hiệu quả tài chính tương đương mà không cần mở rộng sản lượng. Điều đó cho thấy năng lượng không chỉ là một yếu tố đầu vào mà còn là một biến số của năng suất và lợi nhuận. Trong thực tế, năng lượng có thể bị lãng phí ở nhiều khâu: hệ thống khí nén rò rỉ; động cơ, máy bơm và quạt vận hành không phù hợp với tải thực tế; lò hơi hiệu suất thấp; nhiệt thải không được thu hồi; hệ thống lạnh vận hành không tối ưu; thiết bị hoạt động ngoài thời gian sản xuất hoặc dây chuyền công nghệ đã lạc hậu.

Vì vậy, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy “quản lý hóa đơn tiền điện” sang “quản trị năng lượng”. Một chỉ tiêu quan trọng cần được theo dõi không chỉ là tổng số tiền điện phải trả mà là lượng năng lượng tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, chẳng hạn kWh/tấn sản phẩm, kWh/mét vải hay năng lượng trên một đơn vị doanh thu và giá trị gia tăng. Nếu cùng sản xuất một đơn vị sản phẩm nhưng một doanh nghiệp phải tiêu hao nhiều năng lượng hơn đáng kể so với đối thủ, khoảng cách đó cuối cùng sẽ phản ánh vào giá thành, biên lợi nhuận và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

tiết kiệm năng lượng

 

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Một hạn chế khá phổ biến hiện nay là khi nói tới tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp thường nghĩ ngay tới thay máy móc hoặc mua thiết bị mới. Trong khi đó, nguyên tắc hợp lý phải là: Do lường trước - Tối ưu trước - Đầu tư sau. Muốn quản trị tốt, doanh nghiệp trước hết phải biết năng lượng đang được sử dụng tại đâu, khâu nào có mức tiêu hao bất thường và đâu là nguyên nhân của lãng phí. Nếu toàn bộ nhà máy chỉ sử dụng một công tơ tổng thì ban lãnh đạo chỉ biết tổng lượng điện tiêu thụ nhưng khó xác định phân xưởng, dây chuyền hoặc thiết bị nào hoạt động kém hiệu quả.

Vì vậy, cần từng bước xây dựng hệ thống đo đếm, dữ liệu phụ tải và đường cơ sở năng lượng. Trên nền dữ liệu đó, doanh nghiệp có thể ưu tiên xử lý những giải pháp có chi phí thấp như khắc phục rò rỉ khí nén, điều chỉnh áp suất, nhiệt độ và thời gian vận hành, bảo dưỡng thiết bị, tối ưu lịch sản xuất. Sau đó mới đến các khoản đầu tư trung hạn như biến tần, động cơ hiệu suất cao, thu hồi nhiệt, cải tạo hệ thống lạnh và cuối cùng là thay đổi công nghệ lớn. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng đầu tư thiết bị đắt tiền nhưng không xử lý được nguyên nhân gốc của mức tiêu hao năng lượng cao.

Đồng thời, tiêu chí mua sắm cũng cần thay đổi. Một thiết bị có giá mua thấp chưa chắc có chi phí thấp trong toàn bộ vòng đời sử dụng. Với những thiết bị vận hành hàng nghìn giờ mỗi năm, tiền điện có thể lớn hơn nhiều lần chi phí đầu tư ban đầu.

Do đó, doanh nghiệp và khu vực công cần chuyển mạnh sang đánh giá tổng chi phí sở hữu trong vòng đời, bao gồm giá mua, năng lượng, bảo dưỡng, chi phí dừng máy và tuổi thọ thiết bị, thay vì quá chú trọng vào giá thấp nhất khi mua sắm.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Nếu đầu tư hiệu quả năng lượng đem lại lợi ích tương đối rõ ràng thì tại sao nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chủ động thực hiện? Trước hết là vấn đề phân bổ vốn. Một dự án tiết kiệm năng lượng có thể hoàn vốn trong ba năm nhưng vẫn phải cạnh tranh với nhu cầu vốn lưu động, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường hay đầu tư công nghệ khác.

Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về tài sản bảo đảm và khả năng tiếp cận tín dụng càng khiến các dự án tiết kiệm năng lượng khó được ưu tiên. Rào cản thứ hai là khó xác định chính xác khoản tiết kiệm. Một dây chuyền sản xuất mới tạo ra doanh thu có thể nhìn thấy ngay. Ngược lại, hiệu quả năng lượng tạo ra khoản “chi phí không phát sinh”. Nếu không có hệ thống đo lường tốt, doanh nghiệp và ngân hàng khó đánh giá mức tiết kiệm thực tế. Thứ ba là bất cân xứng thông tin. Nhà cung cấp thiết bị thường hiểu công nghệ hơn người mua, trong khi doanh nghiệp phải chịu rủi ro nếu giải pháp không đạt hiệu quả như cam kết.

Cuối cùng là vấn đề ngoại ứng. Doanh nghiệp hưởng lợi từ hóa đơn thấp hơn, nhưng nền kinh tế còn được hưởng những lợi ích khác như giảm nhu cầu đầu tư nguồn và lưới, giảm nhập khẩu nhiên liệu, giảm phụ tải đỉnh và giảm phát thải. Vì doanh nghiệp không nhận được toàn bộ lợi ích xã hội đó nên mức đầu tư tự phát của thị trường có thể thấp hơn mức tối ưu đối với nền kinh tế.

Đây là cơ sở để Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách phù hợp nhằm giảm rủi ro, khuyến khích đầu tư và hình thành thị trường hiệu quả năng lượng.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Một trong những công cụ quan trọng là phát triển mô hình công ty dịch vụ năng lượng - ESCO. ESCO có thể thực hiện kiểm toán, thiết kế giải pháp, triển khai công nghệ và tham gia huy động vốn. Doanh nghiệp không nhất thiết phải tự bỏ toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu mà có thể hoàn vốn cho dự án từ khoản năng lượng tiết kiệm được. Về bản chất, ESCO giúp chuyển dòng tiền tiết kiệm trong tương lai thành nguồn vốn đầu tư ở hiện tại.

Tuy nhiên, điều kiện để mô hình này phát triển là phải có cơ chế đo lường và xác minh - M&V - đủ tin cậy. Nếu mức tiêu thụ điện giảm, cần xác định phần giảm đó xuất phát từ giải pháp tiết kiệm hay do sản lượng giảm, thời tiết thay đổi hoặc cơ cấu sản phẩm khác đi. Không giải quyết tốt vấn đề này, doanh nghiệp, ESCO và ngân hàng sẽ khó thống nhất về dòng tiền của dự án. Do đó, cần chuẩn hóa phương pháp xác lập đường cơ sở, tiêu chuẩn đo lường, hợp đồng mẫu và cơ chế xử lý tranh chấp.

Đây chính là “hạ tầng mềm” để hình thành thị trường dịch vụ năng lượng chuyên nghiệp. Cùng với ESCO, hệ thống ngân hàng cần từng bước xây dựng năng lực thẩm định các dự án hiệu quả năng lượng dựa trên dòng tiền tiết kiệm, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Việc nghiên cứu và xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là hướng đi cần thiết. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất là tránh biến Quỹ thành một kênh cấp phát ngân sách mới. Hiệu quả của Quỹ không nên được đánh giá chủ yếu bằng quy mô vốn mà bằng khả năng huy động vốn xã hội. Nếu một đồng vốn Quỹ thông qua bảo lãnh hoặc chia sẻ rủi ro có thể huy động thêm nhiều đồng tín dụng của ngân hàng, vốn của doanh nghiệp và ESCO thì tác động sẽ lớn hơn nhiều so với việc Quỹ trực tiếp tài trợ toàn bộ dự án.

Theo đó, Quỹ nên tập trung vào một số chức năng như hỗ trợ kiểm toán và chuẩn bị dự án; bảo lãnh tín dụng một phần; hỗ trợ lãi suất có chọn lọc; hỗ trợ phát triển ESCO và M&V; tài trợ dựa trên kết quả tiết kiệm thực tế; đồng thời hình thành cơ sở dữ liệu về công nghệ, hiệu quả đầu tư và thời gian hoàn vốn. Mọi hỗ trợ phải dựa trên tiêu chí minh bạch, định lượng được, hạn chế cơ chế xin – cho và không làm thay chức năng của hệ thống ngân hàng.

Giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả

Để biến tiềm năng tiết kiệm năng lượng thành kết quả thực tế, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp.

Một là, đưa hiệu quả năng lượng vào quy hoạch và điều hành năng lượng quốc gia. Khi đánh giá phương án đầu tư cần so sánh đồng thời chi phí của nguồn mới, lưới điện, lưu trữ, điều chỉnh phụ tải và tiết kiệm năng lượng.

Hai là, đưa năng suất năng lượng thành KPI của doanh nghiệp công nghiệp. Hội đồng quản trị và ban điều hành cần chịu trách nhiệm về chỉ tiêu tiêu hao năng lượng trên đơn vị sản phẩm, thay vì coi đây chỉ là nhiệm vụ của phòng kỹ thuật.

Ba là, phát triển đồng bộ thị trường ESCO, M&V, tín dụng xanh và bảo lãnh tín dụng. Khi mức tiết kiệm được lượng hóa và xác minh đáng tin cậy, dòng vốn tư nhân sẽ có điều kiện tham gia mạnh hơn.

Bốn là, khuyến khích đổi mới công nghệ theo tiêu chí hiệu suất vòng đời. Không để nền kinh tế bị “khóa” trong nhiều năm bởi các thiết bị giá rẻ nhưng tiêu hao năng lượng lớn.

Năm là, chuyển từ vận động tiết kiệm sang thiết kế động lực kinh tế cho tiết kiệm. Doanh nghiệp cần nhìn thấy lợi ích rõ ràng từ việc nâng cao hiệu quả năng lượng thông qua giảm chi phí, cải thiện điều kiện tín dụng, giảm phát thải và nâng khả năng tiếp cận các chuỗi cung ứng xanh.

tiết kiệm năng lượng

Kết luận

Trong giai đoạn tăng trưởng mới, Việt Nam vẫn phải tiếp tục đầu tư mạnh vào nguồn và lưới điện. Nhưng mở rộng nguồn cung chỉ là một nửa của bài toán an ninh năng lượng. Nửa còn lại là sử dụng hiệu quả hơn lượng năng lượng đang có. Một kWh tiết kiệm được không tạo ra thêm điện về mặt vật lý, nhưng giúp giảm lượng điện phải sản xuất, giảm nhiên liệu phải nhập khẩu, giảm áp lực đầu tư hạ tầng và giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

Quan trọng hơn, hiệu quả năng lượng phản ánh chất lượng của mô hình tăng trưởng. Một nền kinh tế mạnh không phải là nền kinh tế tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng, mà là nền kinh tế tạo ra ngày càng nhiều giá trị trên mỗi đơn vị năng lượng sử dụng.

Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “tiết kiệm điện” sang “nâng cao năng suất năng lượng quốc gia”; từ hoạt động mang tính phong trào sang hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu và động lực thị trường; từ hỗ trợ trực tiếp sang cơ chế huy động nguồn lực xã hội. Nếu thực hiện được bước chuyển này, tiết kiệm năng lượng sẽ không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mà còn trở thành một trong những dư địa quan trọng để giảm chi phí sản xuất, nâng sức cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam và tạo nền tảng cho tăng trưởng cao, xanh và bền vững.

 Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quốc hội (2025), Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Chính phủ (2026), Nghị định số 30/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030.

Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 10/CT-TTg về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà.

Bộ Công Thương (2026), Các báo cáo, tài liệu về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển ESCO và Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

          

Nội dung: PGS-TS. Ngô Trí Long

Trình bày: Duy Kiên - Lan Anh