[Emagazine] Luật Dầu khí (sửa đổi): Khơi thông nguồn lực, mở không gian phát triển mới
Ngày 23/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với 473/475 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 94,60%. Những chính sách mới tại Luật tạo cơ chế khai thác hiệu quả hơn tài nguyên dầu khí, đồng thời mở rộng không gian phát triển sang thu giữ, lưu trữ carbon, năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.

Theo Bộ Công Thương, sau hơn 3 năm Luật Dầu khí năm 2022 đi vào thực tiễn, ngành dầu khí đang bước vào một giai đoạn phát triển với những yêu cầu mới. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác ngày càng phải hướng tới những khu vực nước sâu, xa bờ, điều kiện địa chất phức tạp; nhiều mỏ hiện hữu bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng, trong khi việc phát triển các mỏ nhỏ, mỏ cận biên đặt ra bài toán về hiệu quả kinh tế. Cùng với đó, quá trình chuyển dịch năng lượng đang mở ra những lĩnh vực mới có khả năng phát huy hạ tầng, công nghệ và năng lực dịch vụ mà ngành dầu khí đã tích lũy. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để vừa khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí, khơi thông nguồn lực đầu tư, vừa tạo cơ sở cho ngành mở rộng sang những không gian phát triển mới.

Trình bày Tờ trình dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) tại Quốc hội ngày 3/8/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, sau hơn 3 năm triển khai, Luật Dầu khí năm 2022 đã từng bước phát huy hiệu quả, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dầu khí, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy đầu tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh năng lượng. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, một số quy định cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.
Việc sửa đổi Luật được xác định nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; tăng cường phân cấp, phân quyền; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; khai thác hiệu quả tài nguyên, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và chủ quyền quốc gia. Đồng thời, dự án Luật hướng tới cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và tăng cường tự chủ trong cung cấp dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao.
Trên cơ sở đó, dự án Luật tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn, gồm hoàn thiện cơ chế quản lý, phân cấp, phân quyền trong hoạt động dầu khí; hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường thu hút đầu tư; tạo cơ chế khai thác hiệu quả hơn tài nguyên dầu khí, trong đó có nâng cao hệ số thu hồi và khai thác tận thu; bổ sung khung pháp lý cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí; phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.

Các chính sách này từng bước định hình 2 hướng lớn của Luật sửa đổi: khai thác sâu hơn giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí hiện có và mở rộng không gian phát triển của ngành trên nền tảng những năng lực đã được tích lũy.Đây cũng là những nội dung trọng tâm được các đại biểu Quốc hội quan tâm trong quá trình thảo luận dự án Luật.
Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu nêu tại phiên họp ngày 8/8/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, đã có 66 ý kiến tại tổ và 16 ý kiến tại hội trường; hầu hết các ý kiến thống nhất về sự cần thiết sửa đổi và sớm thông qua Luật nhằm sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực dầu khí, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.
Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, các nội dung về phân cấp, phân quyền; cơ chế ưu đãi đối với hoạt động dầu khí; khai thác tận thu; CCS; năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao tiếp tục được làm rõ, hoàn thiện trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Phạm vi điều chỉnh của Luật đã bao quát từ điều tra cơ bản về dầu khí, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng và hoạt động dầu khí đến các cơ chế ưu đãi, khai thác tận thu; đồng thời dành những chương riêng cho CCS gắn với hoạt động dầu khí, phát triển công trình năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.


Một trong những bài toán lớn đặt ra đối với ngành dầu khí hiện nay là duy trì và gia tăng trữ lượng, sản lượng trong điều kiện các đối tượng tiềm năng ngày càng khó tiếp cận. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác đang dịch chuyển tới những khu vực nước sâu, xa bờ, có điều kiện địa chất phức tạp, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao và thời gian thu hồi vốn dài. Trong khi đó, nhiều phát hiện có quy mô nhỏ hoặc thuộc nhóm mỏ cận biên khó đạt hiệu quả kinh tế nếu áp dụng các điều kiện đầu tư thông thường.
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, thực tiễn hoạt động dầu khí cho thấy các dự án ngày càng phải triển khai ở vùng nước sâu, xa bờ, điều kiện địa chất phức tạp hơn, vốn đầu tư lớn hơn và thời gian thu hồi vốn dài hơn. Đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên, nếu áp dụng cơ chế thông thường, nhiều dự án sẽ khó bảo đảm điều kiện kinh tế để nhà đầu tư triển khai.
Từ thực tế đó, Luật Dầu khí (sửa đổi) tiếp tục hoàn thiện cơ chế ưu đãi và bổ sung các công cụ nhằm tạo điều kiện phát triển những nguồn tài nguyên khó. Dự án Luật dành riêng một chương quy định về ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu. Trong đó, bên cạnh các chính sách ưu đãi và ưu đãi đặc biệt, Luật có quy định riêng đối với phát triển khai thác mỏ dầu khí cận biên, nâng cao hệ số thu hồi dầu khí và khai thác tận thu.

Đánh giá về những thay đổi này, các chuyên gia cho rằng, cơ chế ưu đãi cần được nhìn từ chính đặc thù của hoạt động dầu khí. Khi các đối tượng còn tiềm năng ngày càng nằm ở những khu vực khó tiếp cận, quy mô mỏ nhỏ hơn và chi phí phát triển cao hơn, khả năng đưa tài nguyên vào khai thác phụ thuộc đáng kể vào hiệu quả kinh tế của từng dự án.
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) từng chỉ ra khi Quốc hội thảo luận dự án Luật: “Cái khó của ngành dầu khí hôm nay không phải là hết dầu, hết khí. Cái khó là tài nguyên còn nhưng nằm ở chỗ khó lấy”. Với các mỏ cận biên, khi điều kiện hợp đồng thông thường chưa bảo đảm hiệu quả kinh tế cần thiết, một cơ chế phù hợp có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng đưa nguồn tài nguyên vào khai thác.
Đại biểu Đinh Ngọc Minh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) cũng đánh giá cao việc Luật bổ sung các cơ chế ưu đãi, tập trung vào các mỏ cận biên, mỏ có điều kiện khai thác khó khăn và các dự án áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu.
Cụ thể, Luật quy định mỏ dầu khí cận biên được áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt khi đáp ứng các điều kiện theo quy định; phạm vi xem xét còn bao gồm trường hợp mỏ đang khai thác hoặc đã kết thúc khai thác được đánh giá lại và xác định là mỏ dầu khí cận biên.
Theo đại biểu Đinh Ngọc Minh, thực tế vẫn còn nhiều mỏ đã khai thác trong thời gian dài nhưng chưa tận thu hết trữ lượng. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, những phần tài nguyên trước đây chưa thể khai thác có thể được thu hồi nếu có cơ chế phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư. Các cơ chế ưu đãi sẽ tạo thêm động lực để doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, triển khai các giải pháp kỹ thuật mới nhằm khai thác hiệu quả phần tài nguyên còn lại, qua đó kéo dài vòng đời các mỏ dầu khí, gia tăng sản lượng khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia.
Bên cạnh phát triển các mỏ mới, Luật cũng tạo cơ sở để khai thác tốt hơn phần tài nguyên còn lại tại các mỏ hiện hữu. Theo quy định về nâng cao hệ số thu hồi dầu khí, phần dầu khí thu hồi tăng thêm từ việc áp dụng các giải pháp hoặc công nghệ nâng cao hệ số thu hồi được áp dụng chính sách ưu đãi theo quy định.

Cơ chế này mở thêm dư địa gia tăng sản lượng từ chính các mỏ đang hoạt động, nhất là trong bối cảnh nhiều mỏ đã bước vào giai đoạn khai thác suy giảm. Cùng với việc đưa các phát hiện mới vào phát triển, ứng dụng công nghệ để nâng cao khả năng thu hồi phần tài nguyên còn lại trở thành một hướng quan trọng nhằm khai thác hiệu quả hơn trữ lượng đã được xác định.
Ở giai đoạn cuối của vòng đời mỏ, Luật tiếp tục thiết lập cơ chế khai thác tận thu đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí. Các quy định về thời hạn hợp đồng dầu khí cũng tính đến trường hợp cần gia hạn để bảo đảm thời gian khai thác có hiệu quả hoặc thực hiện các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi.
Nhìn tổng thể, các cơ chế này tạo thành một cách tiếp cận xuyên suốt vòng đời tài nguyên: từ tìm kiếm, phát triển nguồn tài nguyên mới, tạo điều kiện đưa các mỏ nhỏ, mỏ cận biên vào khai thác đến nâng cao hệ số thu hồi tại các mỏ hiện hữu và tiếp tục tận thu khi mỏ bước vào giai đoạn cuối của quá trình khai thác.
Điểm mới đáng chú ý khác của lần sửa đổi Luật Dầu khí này là mở rộng khuôn khổ pháp lý cho những hoạt động gắn với quá trình chuyển dịch năng lượng.
Luật dành các quy định riêng cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Các quy định này không chỉ bổ sung những lĩnh vực hoạt động mới mà còn tạo cơ sở để tiếp tục phát huy nguồn dữ liệu, hạ tầng, công nghệ và năng lực kỹ thuật đã được tích lũy trong quá trình phát triển ngành dầu khí.
Đánh giá về bước mở rộng này, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho rằng, nếu Luật Dầu khí năm 2022 chủ yếu tập trung vào các hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí thì Luật Dầu khí (sửa đổi) đã mở rộng sang các lĩnh vực mới như năng lượng ngoài khơi, thu giữ, lưu trữ carbon và dịch vụ dầu khí công nghệ cao, qua đó tạo thêm cơ sở pháp lý để phát huy những nguồn lực sẵn có của ngành dầu khí trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.
Đối với CCS, Luật xác lập chính sách khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và triển khai hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí. Đồng thời, các nguồn lực đã hình thành từ hoạt động dầu khí, từ thông tin, dữ liệu, tài liệu đến công trình dầu khí, mỏ đang khai thác và mỏ đã kết thúc khai thác, có thể được nghiên cứu, tận dụng phục vụ hoạt động này theo quy định.Điều này mở thêm khả năng phát huy giá trị của những nguồn lực đã được hình thành trong nhiều thập niên phát triển ngành dầu khí. Một mỏ sau khi kết thúc khai thác, trong những điều kiện phù hợp, có thể tiếp tục được nghiên cứu cho mục đích lưu trữ CO2; dữ liệu địa chất và năng lực khảo sát tích lũy từ hoạt động dầu khí cũng có thể phục vụ việc đánh giá tiềm năng lưu trữ.
PGS.TS Nguyễn Thế Vinh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất đánh giá, CCUS không chỉ mở ra một lĩnh vực đầu tư mới mà còn là nền tảng công nghệ để ngành dầu khí chuyển dịch theo hướng phát triển carbon thấp, phát huy giá trị của hạ tầng hiện có và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam. Theo ông, việc luật hóa CCS/CCUS tạo cơ sở pháp lý để thu hút đầu tư, thúc đẩy nghiên cứu, triển khai các dự án và từng bước hình thành các chuỗi giá trị mới phục vụ quá trình chuyển dịch năng lượng.
Từ góc độ khai thác các nguồn lực sẵn có, TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, cần tạo cơ sở pháp lý cho việc tái sử dụng các mỏ dầu khí đã ngừng khai thác phục vụ lưu trữ CO2. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực và kinh nghiệm vận hành đã được tích lũy có thể tiếp tục được phát huy trong các hoạt động năng lượng mới trên biển.
Không gian phát triển mới còn được mở rộng thông qua các quy định về công trình năng lượng ngoài khơi. Luật khuyến khích kết hợp điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí với nghiên cứu, điều tra phục vụ phát triển năng lượng ngoài khơi; đồng thời cho phép nghiên cứu vị trí các công trình năng lượng ngoài khơi trong phạm vi diện tích hợp đồng dầu khí để khai thác, tận dụng công trình dầu khí hiện hữu hoặc công trình dầu khí mới nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế.
Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, Petrovietnam có lợi thế về hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi, dữ liệu địa chất, năng lực khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành các công trình biển quy mô lớn. Đây là những nền tảng quan trọng để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị năng lượng biển. Hoạt động điều tra cơ bản, khảo sát địa chất và đánh giá tài nguyên biển được ngành dầu khí thực hiện trong nhiều năm cũng tạo ra nguồn dữ liệu có thể tiếp tục được khai thác phục vụ những lĩnh vực năng lượng mới.
Luật Dầu khí (sửa đổi) cũng dành một chương riêng cho dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Nhà nước khuyến khích nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; phát triển các sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao có khả năng thay thế sản phẩm, dịch vụ nhập khẩu hoặc tham gia thị trường quốc tế.
Năng lực khảo sát biển, khoan, thiết kế và thi công công trình ngoài khơi, cơ khí chế tạo, vận hành, bảo dưỡng và quản lý dự án được hình thành trong quá trình phát triển ngành dầu khí vì vậy có thêm không gian để tiếp tục phát huy khi Việt Nam phát triển các lĩnh vực năng lượng mới trên biển.
Với những điều chỉnh, bổ sung cơ bản, Luật Dầu khí (sửa đổi) mang đến khả năng mở rộng giá trị của những nguồn lực mà ngành dầu khí đã tích lũy. Dữ liệu địa chất có thể phục vụ những mục đích mới; mỏ và công trình dầu khí có thể được nghiên cứu để tiếp tục khai thác giá trị; năng lực kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực có thêm không gian phát triển. Như vậy, không gian phát triển của ngành dầu khí không còn chỉ được xác định bởi lượng dầu và khí có thể tìm kiếm, thăm dò và khai thác, mà còn được mở rộng bởi khả năng phát huy hạ tầng, dữ liệu, công nghệ, dịch vụ và nguồn nhân lực trong những chuỗi giá trị công nghiệp - năng lượng mới.

Việc mở rộng không gian hoạt động mới chỉ là một bước. Để những quy định của Luật Dầu khí (sửa đổi) thực sự tạo động lực cho ngành, yêu cầu tiếp theo là đưa các cơ chế mới vào thực tiễn, chuyển những tiềm năng về tài nguyên, hạ tầng, công nghệ và dịch vụ thành các dự án cụ thể.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với một ngành có đặc thù đầu tư lớn, thời gian triển khai dài, rủi ro cao và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chủ thể. Từ tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ đến nâng cao hệ số thu hồi, khai thác tận thu hay triển khai những hoạt động mới như CCS và năng lượng ngoài khơi, tính rõ ràng và ổn định của khuôn khổ pháp lý là một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.
Đánh giá về Luật Dầu khí (sửa đổi), ông Lê Ngọc Sơn, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) nhấn mạnh, ý nghĩa của lần sửa đổi không chỉ nằm ở những điều khoản mới, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa thể chế thành các dự án được triển khai, trữ lượng được gia tăng, sản lượng được duy trì và nguồn năng lượng phục vụ phát triển đất nước.

Nhìn từ yêu cầu đó, những thay đổi của Luật có thể được nhận diện trên 2 hướng lớn. Một mặt, các cơ chế về ưu đãi đầu tư, mỏ cận biên, nâng cao hệ số thu hồi và khai thác tận thu tạo điều kiện khai thác sâu hơn giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí hiện có. Mặt khác, những quy định về CCS, năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao mở rộng khả năng phát huy hệ thống dữ liệu, hạ tầng, công nghệ, dịch vụ và nguồn nhân lực mà ngành đã tích lũy trong nhiều thập niên.
Từ đây, việc duy trì hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác tiếp tục tạo nền tảng cho hệ thống công nghiệp và dịch vụ dầu khí; trong khi những lĩnh vực mới có thể mở thêm không gian để các năng lực được hình thành từ dầu khí tiếp tục được sử dụng và phát triển. Giá trị của ngành vì vậy không chỉ nằm ở sản lượng dầu, khí được khai thác mà còn ở khả năng phát huy những nguồn lực đã được hình thành xung quanh hoạt động dầu khí.

Luật Dầu khí (sửa đổi) vì thế tạo thêm cơ sở pháp lý để ngành dầu khí vừa tiếp tục thực hiện vai trò trong bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thích ứng với những yêu cầu mới của quá trình chuyển dịch năng lượng. Từ khai thác hiệu quả hơn nguồn tài nguyên hiện có đến mở rộng sang những lĩnh vực gắn với thế mạnh về hạ tầng, công nghệ và dịch vụ, không gian phát triển của ngành đang được mở rộng theo hướng khai thác tổng thể hơn các nguồn lực đã được tích lũy.
Đây cũng là cơ sở để ngành dầu khí tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị công nghiệp - năng lượng, qua đó tạo một trong những nền tảng cho quá trình hình thành và phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng của Việt Nam trong giai đoạn mới.
