[eMagazine] Nâng tầm giá trị hương quế Nậm Đét - Gia tăng sinh kế cho đồng bào Dao
Giữa vùng núi phía Bắc Lào Cai, những đồi quế ở Nậm Đét không chỉ phủ xanh sườn núi mà còn gắn với sinh kế của nhiều thế hệ đồng bào Dao. Từ chỗ chủ yếu bán vỏ, cành, lá dưới dạng nguyên liệu, cây quế từng bước được tổ chức thành một chuỗi giá trị: xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ, liên kết qua hợp tác xã, đẩy mạnh sơ chế - chế biến, chưng cất tinh dầu, hoàn thiện bao bì, tham gia OCOP và mở rộng thị trường. Tinh dầu quế Nậm Đét vì thế không chỉ là sản phẩm OCOP 3 sao, mà còn cho thấy cách một sản vật vùng cao được nâng tầm ngay từ nơi nó được tạo ra.

Từ nhiều thập kỷ trước, cây quế đã bén rễ trên những sườn đồi Nậm Đét, rồi dần trở thành một phần sinh kế của người dân nơi đây. Theo tài liệu của ngành khuyến nông, từ năm 1975, Nậm Đét đã được khảo sát, lựa chọn trồng thử quế. Hợp đất, hợp khí hậu, cây sinh trưởng tốt, cho hàm lượng tinh dầu cao và dần trở thành cây trồng chủ lực. Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, Nậm Đét có bốn dân tộc Dao, Phù Lá, Mông, Kinh sinh sống, trong đó người Dao chiếm trên 80%. Tập quán canh tác ít sử dụng hóa chất của bà con cũng tạo nền tảng thuận lợi để chuyển sang sản xuất hữu cơ.
Năm tháng đi qua, quế từ một loại cây phủ xanh đất đồi trở thành “của để dành” của nhiều gia đình. Gần như bộ phận nào của cây cũng có thể tạo ra giá trị: vỏ là nguyên liệu chính, cành và lá dùng chưng cất tinh dầu, thân làm gỗ, hạt làm giống. Người trồng cũng không nhất thiết phải chờ đến khi khai thác cả cây mới có thu nhập, mà có thể tỉa cành, thu lá, thu vỏ theo chu kỳ.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Nậm Đét cùng Cốc Ly và Bảo Nhai hợp thành xã Bảo Nhai mới. Toàn xã hiện có 4.325 ha quế, trong đó 1.297 ha quế hữu cơ, tập trung tại các thôn Nậm Đét, Bản Lắp, Nậm Cài; diện tích hữu cơ chiếm gần 30% tổng diện tích quế của xã.
Vùng quế hữu cơ Nậm Đét không chỉ được tạo dựng bằng một tấm giấy chứng nhận, mà bằng sự thay đổi trong chính cách người dân canh tác. Từ thói quen sản xuất truyền thống, bà con từng bước tuân thủ quy trình nghiêm ngặt hơn: không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, kiểm soát chặt từ khâu chăm sóc, thu hái đến bảo vệ vùng nguyên liệu. Nhờ đó, hàng trăm héc-ta quế tại Nậm Đét đã được chứng nhận hữu cơ quốc tế và diện tích tiếp tục được mở rộng. Khi hướng tới những thị trường có yêu cầu cao, giá trị của cây quế vì thế không còn được đo bằng diện tích hay sản lượng đơn thuần, mà còn ở tiêu chuẩn sản xuất, khả năng truy xuất nguồn gốc và sự ổn định về chất lượng.
Theo lãnh đạo địa phương, quế hữu cơ có giá cao hơn quế thông thường, giúp thu nhập của các hộ tham gia chuỗi sản xuất hữu cơ cải thiện rõ rệt. Từ cây giúp xóa đói giảm nghèo, quế đang dần trở thành cây làm giàu trên vùng đất từng còn nhiều khó khăn.
Nhưng nếu chỉ dừng ở bán vỏ quế tươi hoặc quế khô, phần giá trị gia tăng lớn hơn vẫn nằm ở những khâu phía sau. Đó cũng là lúc người làm quế ở Nậm Đét bắt đầu tìm cách giữ thêm phần giá trị ấy ngay tại vùng trồng.

Năm 2018 đánh dấu một bước chuyển quan trọng với người trồng quế Nậm Đét. Nhận thấy quế của gia đình và bà con nếu chỉ bán nguyên liệu thì hiệu quả kinh tế còn thấp, ông Triệu Phúc Vầy cùng một số hộ dân thành lập Hợp tác xã Quế hữu cơ Nậm Đét với 6 thành viên, tổ chức vùng liên kết ban đầu khoảng 120 ha.
Từ đó, HTX liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu để tổ chức sản xuất, sơ chế và chế biến nhiều mặt hàng như tinh dầu quế, quế ống điếu, quế sáo, bột quế, quế chi… Nhờ chất lượng ổn định, sản phẩm của HTX được thị trường đánh giá cao; nhiều doanh nghiệp sẵn sàng thu mua với giá cao hơn từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với sản phẩm cùng loại ở một số địa phương khác.

Điểm đáng chú ý trong cách làm của HTX là không dừng ở việc bán vỏ quế thô, mà khai thác sâu hơn từng phần của cây quế. Qua sơ chế, chế biến, nguyên liệu được phát triển thành quế thanh, quế sáo, quế ống điếu, quế lát, quế tăm, bột quế và tinh dầu quế. Ngay cả cành, lá trước đây có giá trị thấp cũng được tận dụng để chưng cất tinh dầu. Nhờ vậy, cùng một cây quế có thể tạo ra nhiều dòng sản phẩm, kéo dài chuỗi chế biến và tăng thêm nguồn thu thay vì chỉ phụ thuộc vào vỏ quế.

Theo ông Triệu Phúc Vầy, trước khi HTX đi vào hoạt động, quế tươi tại địa phương được thu mua khoảng 20.000 đồng/kg. Khi HTX trở thành đầu mối liên kết sản xuất và tiêu thụ, giá thu mua tăng lên 27.000 - 28.000 đồng/kg. Mức tăng này cho thấy hiệu quả của việc tổ chức lại thị trường ngay tại vùng nguyên liệu: người trồng có đầu ra ổn định hơn và được hưởng phần giá trị cao hơn từ sản phẩm mình làm ra.
Từ 120 ha liên kết ban đầu, vùng nguyên liệu của HTX đã mở rộng lên gần 1.800 ha. Riêng năm 2025, HTX thu mua khoảng 200 - 300 tấn vỏ quế, tạo việc làm cho khoảng 25 lao động địa phương và đạt lợi nhuận khoảng 300 - 400 triệu đồng. Với một HTX vùng cao, ý nghĩa không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng, mà ở việc giữ lại nhiều hơn giá trị của cây quế ngay tại nơi sản xuất, để người dân địa phương được hưởng lợi trực tiếp từ cả trồng, thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Tinh dầu Quế Nậm Đét được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao từ năm 2021 và tiếp tục duy trì xếp hạng trong kỳ đánh giá năm 2024. Để đi đến dấu mốc đó, sản phẩm không chỉ cần chất lượng bên trong mà còn phải hoàn thiện cả cách nhận diện và cách xuất hiện trên thị trường.


Có thời gian, dù chất lượng quế Nậm Đét được khách hàng đánh giá cao, thương hiệu của tinh dầu vẫn gần như là một khoảng trống. Sản phẩm chủ yếu được bán buôn cho các công ty dưới dạng nguyên liệu, chưa có nhãn hiệu riêng, nhãn mác và bao bì hoàn chỉnh. Vì thế, HTX khó tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng cuối cùng, còn tên tuổi của vùng nguyên liệu Nậm Đét chưa được thể hiện rõ trên sản phẩm.
Nói cách khác, có nguyên liệu tốt và làm ra được tinh dầu mới chỉ là một nửa hành trình. Muốn bước vào thị trường bán lẻ, sản phẩm cần một danh tính để người mua nhận biết, tin tưởng và ghi nhớ.
Từ thực tế đó, HTX từng bước được hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, xây dựng nhãn hiệu, kết nối doanh nghiệp và tham gia các hội chợ, hội nghị quảng bá. Quá trình xây dựng thương hiệu vì thế không chỉ dừng ở việc làm đẹp hình thức, mà được thực hiện đồng thời từ chất lượng bên trong đến diện mạo bên ngoài.

Nền tảng trước hết nằm ở vùng nguyên liệu. Đến tháng 3/2018, Nậm Đét đã có 615 ha quế được chứng nhận hữu cơ quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để khi tên Nậm Đét xuất hiện trên bao bì, phía sau cái tên ấy là một vùng nguyên liệu xác định và một phương thức sản xuất có tiêu chuẩn.
Ở khâu hoàn thiện sản phẩm, thay đổi bắt đầu từ chai, nhãn và hộp đựng. Tinh dầu được đóng trong chai thủy tinh dung tích 30 ml thay cho cách bán số lượng lớn trước đó; bên ngoài là hộp giấy kraft vừa bảo vệ sản phẩm trong vận chuyển, trưng bày, vừa tạo hình thức phù hợp hơn với thị trường bán lẻ. Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp Lào Cai đã hỗ trợ HTX lựa chọn, thiết kế và in ấn bao bì.
Bộ nhận diện của Tinh dầu quế Nậm Đét gồm tên sản phẩm, logo HTX, hình ảnh nguyên liệu quế cùng các thông tin cần thiết về công dụng, cơ sở sản xuất, công nghệ sản xuất, hướng dẫn sử dụng, ngày sản xuất, hạn sử dụng… Những nội dung này được thể hiện bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Từ đây, một chai tinh dầu không còn là sản phẩm gần như “vô danh” trên thị trường nguyên liệu: người mua có thể biết sản phẩm là gì, ai làm ra, dùng thế nào và gắn với vùng đất nào.

Hiệu quả kinh tế của bước chuyển này thể hiện khá rõ qua những con số năm 2019. Khi bán buôn, tinh dầu quế của HTX có giá khoảng 1 triệu đồng/lít. Sau khi được đóng chai 30 ml, có nhãn hiệu và bao bì để tiếp cận thị trường bán lẻ, giá trị quy đổi có thể đạt khoảng 4 triệu đồng/lít, cao gấp bốn lần. Sau khi trừ các chi phí về chai, hộp, tem nhãn, nhân công, máy móc và bán hàng, lợi nhuận vẫn cao khoảng gấp hai lần so với hình thức bán buôn.
Những con số ấy cho thấy ý nghĩa của chiếc hộp giấy và chiếc nhãn không nằm ở giá vật liệu, mà ở khả năng thay đổi vị trí của sản phẩm trong chuỗi hàng hóa. Một lít tinh dầu bán trong can lớn chủ yếu là nguyên liệu của doanh nghiệp khác; nhưng cũng lượng tinh dầu đó, khi được chia thành những chai nhỏ có thương hiệu, thông tin rõ ràng và hình thức phù hợp với người tiêu dùng, HTX có cơ hội giữ lại phần giá trị lớn hơn ở khâu cuối của chuỗi.
Có bao bì và nhãn hiệu mới chỉ là bước đầu. Sản phẩm quế của HTX còn được giới thiệu tại các hội chợ thương mại, hội nghị, hội thảo cấp tỉnh; được quảng bá qua báo chí, truyền hình và internet. Đó là bước nối từ “có sản phẩm” sang “đưa sản phẩm đến thị trường”, để người tiêu dùng dần nhận diện tên quế Nậm Đét thay vì chỉ biết quế như một loại nguyên liệu chung.
Ở bình diện rộng hơn, sau khi Lào Cai và Yên Bái hợp nhất, không gian xúc tiến thương mại của tỉnh Lào Cai mới cũng được mở rộng. Theo báo cáo tổng kết năm 2025, ngành Công Thương tỉnh đã tham mưu triển khai 31 hoạt động xúc tiến thương mại, gồm 3 hoạt động tuyên truyền và 28 hoạt động xúc tiến trong và ngoài nước. Cùng năm, hơn 1.200 lượt sản phẩm OCOP, đặc sản vùng miền của các HTX, doanh nghiệp thành viên được Liên minh HTX tỉnh quảng bá tại các hội nghị kết nối cung - cầu, triển lãm, hội chợ trong và ngoài tỉnh. Những hoạt động này tạo thêm cơ hội để các sản phẩm vùng cao như tinh dầu quế Nậm Đét tiếp cận hệ thống phân phối, tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường.

Với Tinh dầu quế Nậm Đét, hành trình từ những can tinh dầu bán buôn đến sản phẩm có tên gọi, logo, bao bì và xếp hạng OCOP cho thấy khá rõ một cách nâng tầm sản vật miền núi: không chỉ làm ra sản phẩm tốt, mà còn phải chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và tìm được con đường tới người mua.
Bao bì không làm thay đổi chất lượng của giọt tinh dầu bên trong, nhưng nhãn hiệu, mẫu mã, thông tin rõ ràng và câu chuyện về vùng nguyên liệu có thể thay đổi cách thị trường nhận diện và định giá sản phẩm. Với quế Nậm Đét, đó là bước chuyển từ bán nguyên liệu sang bán sản phẩm, từ bán sản phẩm sang xây dựng thương hiệu để nhiều hơn giá trị của cây quế được giữ lại trên chính vùng đất nơi nó bén rễ.

Bài: Huy Tưởng
Ảnh: AHTX Nậm Đét
Thiết kế: Nguyên, có sử dụng AI
