[eMagazine] Quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường châu Âu: Nhà cung cấp Việt Nam cần đáp ứng như thế nào?
30/11/2025 lúc 10:37 (GMT)

[eMagazine] Quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường châu Âu: Nhà cung cấp Việt Nam cần đáp ứng như thế nào?

 

Để thích ứng và tuân thủ các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường châu Âu, mức độ hiểu biết của các chủ thể ở Việt Nam về quy định thẩm định chuỗi cung ứng ở thị trường châu Âu và năng lực thực hiện các trách nhiệm liên quan tới các quy định này có vai trò quyết định.

Để tiếp tục xuất khẩu bền vững sang các thị trường châu Âu, các nhà cung cấp Việt Nam, đặc biệt là nhóm đang tham gia vào các chuỗi cung của các đối tác lớn ở châu Âu cần sẵn sàng trước các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường này.

Tuy nhiên, điều này phụ thuộc khá nhiều vào mức độ hiểu biết của các chủ thể ở Việt Nam về quy định thẩm định chuỗi cung ứng ở thị trường châu Âu và năng lực thực hiện các trách nhiệm liên quan tới các quy định này.

đáp ứng chuỗi cung ứng EU 1

Khảo sát do Trung tâm WTO và Hội nhập, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện trong tháng 7-8/2025 với phản hồi từ các đối tượng có vai trò nhất định liên quan tới chuỗi cung ứng sang EU cho các kết quả tuy không gây ngạc nhiên nhưng tương đối đáng quan ngại.

Về mức độ nhận biết, trong tổng thể, có tới 48% phản hồi chưa từng nghe nói tới Chỉ thị Thẩm định chuỗi cung ứng của Liên minh châu Âu (CSDDD); 46,7% đã nghe nói nhưng chưa tìm hiểu sâu, và chỉ có 5,3% đã tìm hiểu và có hiểu biết tương đối về nội dung văn bản này.

Tỷ lệ này tuy vậy cũng đã là khả quan nhất so với các nhận thức của các chủ thể ở Việt Nam đối với các hệ thống pháp luật về thẩm định chuỗi cung ứng khác. Cụ thể, 67,2% chưa từng nghe nói tới Luật Thẩm định chuỗi cung ứng của CHLB Đức (SCDDA), tỷ lệ này là 72,3% với Luật Nghĩa vụ thẩm định của Pháp, 54,9% với Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về Hành vi kinh doanh có trách nhiệm.

biểu đồ 1

Tín hiệu lạc quan là nhóm phản hồi từ cán bộ cơ quan quản lý Nhà nước, hiệp hội, tổ chức tư vấn có tỷ lệ hiểu biết về các quy định thẩm định chuỗi cung ứng cao nhất. Đây lại là các nhóm chủ chốt trong việc phổ biến tuyên truyền và hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong vấn đề này. Vì vậy, có tín hiệu để hy vọng rằng mức độ nhận biết của các nhóm chủ thể khác, đặc biệt là nhóm các doanh nhân, lãnh đạo, nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp, sẽ được cải thiện trong thời gian tới.

Về các khía cạnh thẩm định, mặc dù không biết rõ, thậm chí chưa từng nghe nói tới các quy định thẩm định chuỗi cung ứng, đa số các ý kiến phản hồi suy đoán chính xác một/các nhóm tiêu chuẩn thẩm định cơ bản. Cụ thể, có tới 84,8% phản hồi cho rằng pháp luật về thẩm định chuỗi cung ứng bao gồm các chuẩn thẩm định về quyền con người (trong đó có quyền lao động) và 88,3% chọn các chuẩn thẩm định về môi trường (hai nhóm tiêu chuẩn chính trong Chỉ thị CSDDD và Luật SCDDA), trong khi đó 86,4% chọn các vấn đề về pháp luật cạnh tranh, thuế, chống tham nhũng.... (là các tiêu chuẩn khác theo Hướng dẫn của OECD).

Mặc dù vậy, dường như phần lớn các chủ thể ở Việt Nam đều chưa nhận diện được bản chất của thẩm định chuỗi cung ứng không phải là ở nghĩa vụ thực hiện hay tuân thủ các tiêu chuẩn về lao động, môi trường... mà là trách nhiệm phòng ngừa, ngăn chặn các rủi ro vi phạm hay các tác động bất lợi đến các quyền này cũng như xử lý và hạn chế các thiệt hại nếu xảy ra vi phạm.

nhận diện chuỗi cung ứng

Về tác động dự kiến, trong tổng thể, các ý kiến cho rằng các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường EU đang hoặc sẽ “ảnh hưởng lớn” đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này ở hiện tại, trong tương lai gần và tương lai xa chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 51,2%, 47,3% và 61,1%.

Riêng nhóm phản hồi từ các hiệp hội, tổ chức tư vấn có lựa chọn bình tĩnh hơn, với đa số đánh giá rằng các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng sẽ chi ảnh hưởng đáng kể tới xuất khẩu Việt Nam sang EU trong lâu dài mà chưa phải là ngay hiện tại hay trong tương lai gần.

ý kiến

Các đánh giá này của nhóm phản hồi từ các hiệp hội, đơn vị tư vấn phản ánh khá sát với thực tế, đặc biệt là ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, hiện nay mới chỉ có một vài nước châu Âu áp dụng quy định về thẩm định chuỗi cung ứng, còn Chỉ thị của EU lại chỉ bắt đầu có hiệu lực với các doanh nghiệp trên lãnh thổ của cả 27 nước thành viên từ giữa năm 2027-2028.

Thứ hai, khác với các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (TBT), vệ sinh dịch tễ an toàn thực phẩm (SPS), quy định thấm định chuối cung ứng không áp dụng trực tiếp cho hàng hóa xuất khẩu hay các nhà cung cấp Việt Nam. Do đó, về pháp lý, kể cả khi có khâu nào đó trong chuỗi cung vi phạm các yêu cầu thẩm định chuỗi cung ứng này, hàng hóa liên quan vẫn sẽ được nhập khẩu vào châu Âu mà không bị phạt, cấm hay hạn chế.

Thứ ba, trong tương lai xa hơn, nhà cung cấp Việt Nam không tuân thủ hoặc không đáp ứng các yêu cầu về thẩm định chuỗi cung ứng có thể phải đối mặt với nguy cơ bị dừng đơn hàng hiện tại, mất cơ hội nhận đơn hàng tương lai do Đối tác châu Âu lựa chọn nhà cung cấp khác ít rủi ro hơn cho họ.

Như vậy, từ góc độ nhận thức, có thể thấy hiểu biết về thẩm định chuỗi cung ứng ở thị trường châu Âu của các chủ thể liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp, hiện còn rất hạn chế. Mặc dù vậy, điểm tích cực là đa số đều có suy đoán tương đối chính xác về các xu hướng chính sách liên quan ở thị trường châu Âu và có sự "cảnh giác" nhất định trước các vấn đề này. Đây sẽ là tiền đề cho việc phổ biến tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thúc đẩy tuân thủ các quy định này trong các chuỗi cung ứng liên quan ở Việt Nam.

năng lực chuỗi cung ứng

Với hiện trạng sản xuất và cung ứng dịch vụ trong các chuỗi hàng hóa đi thị trường EU, nhà cung cấp Việt Nam có nhiều thuận lợi nhưng cũng có khó khăn nhất định trong thực hiện các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của các thị trường châu Âu.

Về thuận lợi, Báo cáo của Trung tâm WTO và Hội nhập cho rằng, mặc dù các quy định thẩm định chuỗi cung ứng tương đối phức tạp nhưng việc tham gia thực hiện các quy định này của nhà cung cấp Việt Nam được đánh giá là khá thuận lợi bởi ít nhất các lý do sau:

Một là, nhiều nhà cung cấp Việt Nam đã làm quen với các quy định, yêu cầu về tiêu chuẩn quyền con người, môi trường tương tự các chuẩn trong Luật SCDDA hay Chỉ thị CSDDD.

Trên thực tế, nhiều đối tác châu Âu là doanh nghiệp xuyên quốc gia đã thực hiện trách nhiệm thẩm định tự nguyện theo Hướng dẫn của OECD về vấn đề này từ lâu thông qua việc đặt ra các Bộ quy tắc ứng xử riêng cho các nhà cung ứng. Các doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động gia công, chế biến theo đặt hàng) buộc phải ký cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn này nếu muốn nhận đơn hàng.

Trong khi đó, các tiêu chuẩn thẩm định tại Luật SCDDA hay Chỉ thị CSDDD thực tế đã pháp luật hóa nhiều nội dung trong các Bộ quy tắc ứng xử tự nguyện của các doanh nghiệp lớn ở châu Âu. Do đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể đã khá quen thuộc và cơ bản sẵn sàng cho các tiêu chuẩn về quyền con người và môi trường cơ bản trong hai văn bản này.

thẩm định 1
thẩm định 2
thẩm định 3

Hai là, các nhà cung cấp Việt Nam đã và đang tuân thủ các quy định trong pháp luật Việt Nam với nội dung cơ bản tương tự với các chuẩn thẩm định nêu tại Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD.

Với việc tham gia các thỏa thuận quốc tế, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tiêu chuẩn cao và nhiều Công ước quốc tế về lao động và môi trường, pháp luật Việt Nam hiện hành trong các lĩnh vực này cơ bản đã được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế cũng như nội luật hóa đầy đủ các cam kết. Do đó, chuẩn pháp luật nội địa của Việt Nam về các vấn đề liên quan cơ bản tương đồng các yêu cầu theo chuẩn thẩm định chuỗi cung ứng của Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD.

Trừ một số ít ngoại lệ, phần lớn nhà cung cấp tham gia vào các chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu đi châu Âu ở Việt Nam đều là các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực kinh tế chính thức, một bộ phận có quy mô vừa và lớn (đặc biệt là các doanh nghiệp FDI). Các doanh nghiệp này suy đoán đều phải tuân thủ các quy định pháp luật nội địa hiện hành và phải chịu thanh tra, kiểm tra chặt chẽ theo quy định. Vì vậy, đối với đa số doanh nghiệp này, các chuẩn thẩm định trong Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD không đặt thêm gánh nặng tuân thủ đáng kể nào.

Ba là, với phần lớn các nhà cung cấp Việt Nam, trách nhiệm phối hợp trong quy trình thẩm định chuỗi cung ứng theo Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD không quá tốn kém hay thách thức.

box 2

Bên cạnh những thuận lợi là chủ yếu, việc triển khai các trách nhiệm liên quan tới quy định về thẩm định chuỗi cung ứng của Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD vẫn đặt ra những thách thức cho các nhà cung cấp Việt Nam, nhất là ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, các tiêu chuẩn thẩm định trong Luật SCDDA và Chỉ thị CSDDD mặc dù về cơ bản không mới nhưng có nội dung được dẫn chiếu theo các Công ước với ngôn ngữ phức tạp, có thể được diễn giải theo các cách khác nhau. Do đó, trong một số trường hợp, nhà cung cấp Việt Nam có thể chưa thực sự biết được chính xác mình cần làm gì để tuân thủ một số tiêu chuẩn trong các trường hợp cụ thể.

Thứ hai, mặc dù việc phối hợp triển khai các biện pháp theo quy trình thẩm định có thể không quá phức tạp nhưng vẫn đòi hỏi chi phí tuân thủ (nhân lực, vật lực) từ mỗi nhà cung cấp. Trong bối cảnh căng thẳng thuế quan và hoạt động sản xuất kinh doanh bất ổn, mọi khoản chi phí tăng thêm đều sẽ tạo thêm gánh nặng cho các doanh nghiệp tham gia các chuỗi cung ứng này.

Thứ ba, trong một số trường hợp nhất định (ví dụ do cách hiểu và diễn giải khác nhau về một số quyền lao động...), có thể có một số khâu đặc thù trong một số chuỗi cung ứng dễ gặp rủi ro bị cáo buộc (ví dụ sự tham gia của trẻ em hoặc người lớn tuổi vào một số khâu đơn giản trong dây chuyền sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông thủy sản ở một số hợp tác xã, làng nghề..).

 
chân trang