[eMagazine] Rộng đường ra thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Để mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chính sách hỗ trợ đang chuyển từ quảng bá, giới thiệu sang kết nối cung - cầu, phát triển kênh phân phối và nâng năng lực đáp ứng thị trường. Hiệu quả vì thế không chỉ được nhìn ở số lượng sự kiện hay sản phẩm tham gia, mà ngày càng gắn với đơn hàng, khả năng tái đặt hàng và quan hệ thương mại được duy trì.

Tháng 11/2025, Ngày hội sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phía Bắc tại Lai Châu quy tụ 74 gian hàng của doanh nghiệp và các địa phương. Cùng với trưng bày sản phẩm, chương trình có sự tham gia của Central Retail Việt Nam, Saigon Co.op, WinCommerce và một số doanh nghiệp trong, ngoài nước; đồng thời tổ chức hội nghị kết nối giao thương giữa nhà cung cấp khu vực Tây Bắc với doanh nghiệp phân phối, xuất khẩu.
Sự tham gia trực tiếp của các nhà phân phối cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ trong hoạt động hỗ trợ tiêu thụ: sản phẩm không chỉ cần được giới thiệu rộng rãi mà quan trọng hơn là gặp đúng người mua, tiếp cận yêu cầu cụ thể của từng kênh và tạo cơ hội hình thành giao dịch.

Đây cũng là hướng Bộ Công Thương triển khai trong những năm qua thông qua nhiều công cụ như kết nối cung - cầu, hội chợ, điểm giới thiệu và bán hàng, mô hình thương mại hai chiều, kết nối hệ thống phân phối và thương mại điện tử.
Với nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã ở khu vực miền núi, trở ngại trong tiếp cận thị trường không chỉ nằm ở khoảng cách địa lý. Quy mô nguồn cung nhỏ, khả năng nắm bắt nhu cầu hạn chế, chi phí lưu thông cao và thiếu thông tin về điều kiện của từng hệ thống phân phối đều làm tăng chi phí đưa hàng hóa ra thị trường.

Chính sách vì vậy tập trung tạo môi trường kết nối, giảm khoảng cách thông tin giữa người bán và người mua, đồng thời hỗ trợ các chủ thể hoàn thiện những điều kiện cần thiết để tham gia các kênh phân phối.
Từ thực tiễn triển khai, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là tổ chức thêm các hoạt động kết nối mà phải nâng chất lượng của từng cuộc kết nối: lựa chọn sản phẩm phù hợp, xác định đúng kênh tiêu thụ, đưa nhà phân phối tham gia sớm và theo dõi kết quả sau sự kiện.


Tại Tọa đàm “Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” ngày 3/9/2026, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn (Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương) đã chỉ ra 5 nút thắt mang tính hệ thống: nguồn cung; truy xuất nguồn gốc; thương mại hóa giá trị văn hóa; logistics; năng lực tham gia các kênh phân phối. Muốn có đầu ra ổn định, chủ thể phải chuẩn hóa từ chất lượng, sản lượng, chủng loại, thời điểm giao hàng đến đóng gói, dữ liệu, chứng từ, truy xuất và khả năng điều chỉnh theo phản hồi thị trường.

Những yêu cầu đó được nhìn thấy khá rõ từ thực tế của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng, Lạng Sơn. Hợp tác xã đã chủ động nâng chất lượng sản phẩm theo hướng xanh, sạch, mở rộng từ bán hàng truyền thống sang kênh trực tuyến và tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại. Tháng 7/2026, Hợp tác xã được Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ mở gian hàng trên TikTok Shop, bổ sung kênh tiếp cận người tiêu dùng ngoài địa phương.
Tuy nhiên, điều hợp tác xã cần nhất vẫn là kết nối với các chuỗi tiêu thụ ổn định. Để tiếp cận siêu thị và các chuỗi bán hàng hiện đại, hợp tác xã phải tiếp tục hoàn thiện nhận diện, tem, mã QR, bao bì, hồ sơ pháp lý và truy xuất nguồn gốc. Trường hợp này cho thấy mở thêm kênh bán hàng mới chỉ tạo cơ hội tiếp cận; khả năng duy trì đầu ra còn phụ thuộc vào năng lực hoàn thiện sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu của người mua.

Từ phía thị trường, thực tế này cũng đặt ra yêu cầu các nhà phân phối tham gia sớm hơn vào quá trình kết nối. Thay vì chỉ tiếp nhận sản phẩm ở khâu cuối, siêu thị, chuỗi bán lẻ, doanh nghiệp du lịch hay nền tảng số có thể cung cấp từ đầu thông tin về quy cách, giá cả, sản lượng và điều kiện giao hàng. Tín hiệu từ người mua khi đó trở thành căn cứ để người sản xuất điều chỉnh nguồn cung và lựa chọn kênh phù hợp.
Cùng với đó, cách đánh giá hiệu quả chính sách cũng cần chuyển theo kết quả thị trường. Bên cạnh số sự kiện, số lượt trưng bày hay số sản phẩm tham gia, những chỉ số như: đơn hàng thử, tỷ lệ tái đặt hàng, doanh số và quan hệ thương mại duy trì sau kết nối phản ánh rõ hơn khả năng chuyển nguồn lực hỗ trợ thành đầu ra thực tế.

Năm 2026, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đặt trong một không gian chính sách rộng hơn về phát triển thị trường trong nước. Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 5/4/2026 của Chính phủ xác định phát triển mạnh thị trường nội địa, tăng sức mua của người dân và doanh nghiệp là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời đặt ra các nhiệm vụ về kết nối cung - cầu, xúc tiến thương mại, chuyển đổi số và phát triển các kênh phân phối.
Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 88/NQ-CP và Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025 - 2027, Bộ Công Thương tiếp tục đặt trọng tâm vào các giải pháp mở rộng tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, 6 nhóm giải pháp được ưu tiên gồm: đổi mới kết nối cung - cầu; phát huy vai trò nhà phân phối; hỗ trợ chuyển đổi số thiết thực; nâng chuẩn sản phẩm và niềm tin người tiêu dùng; tổ chức lại logistics theo vùng; đổi mới cách đánh giá hiệu quả chính sách.

Điểm đáng chú ý là hoạt động kết nối được định hướng theo hướng có chọn lọc và theo dõi kết quả. Trước mỗi chương trình, sản phẩm được rà soát theo yêu cầu của từng kênh như bán trực tuyến, trung tâm thương mại, chợ hay sự kiện lưu động. Sau kết nối, cơ quan quản lý theo dõi đơn hàng thử, việc tái đặt hàng, những vướng mắc về giao nhận, chất lượng; đồng thời phối hợp với hệ thống phân phối hỗ trợ chủ thể hoàn thiện hồ sơ và xây dựng lộ trình đáp ứng yêu cầu của từng kênh.
Cách làm này hướng tới khắc phục một hạn chế của hoạt động xúc tiến trước đây: sự kiện kết thúc thì quá trình hỗ trợ cũng kết thúc. Việc theo dõi sau kết nối vừa giúp nhận diện những nguyên nhân khiến giao dịch chưa thành công, vừa tạo dữ liệu để đánh giá và điều chỉnh công cụ hỗ trợ.
Không gian thị trường cũng ngày càng đa dạng, từ hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử đến du lịch, tiêu dùng xanh và thương mại hai chiều tại miền núi, biên giới. Mỗi kênh đặt ra những yêu cầu khác nhau về sản phẩm, nguồn hàng, tiêu chuẩn và logistics, do đó cũng đòi hỏi cách thức hỗ trợ phù hợp.
Từ góc độ chính sách dân tộc, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho rằng cần hình thành mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, định hướng và điều phối nguồn lực; địa phương tổ chức thực hiện; doanh nghiệp kết nối thị trường, hoàn thiện sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ; còn cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số phải là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và trực tiếp hưởng lợi.

Cách phân vai này cũng cho thấy bài toán tiêu thụ không thể giải quyết bằng một chính sách đơn lẻ. Phát triển thị trường phải gắn với tổ chức sản xuất, chuẩn hóa sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, logistics, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và các không gian tiêu dùng mới. Trong chuỗi đó, ngành Công Thương giữ vai trò trực tiếp ở nhiều mắt xích liên quan đến phát triển thị trường, hệ thống phân phối, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và kết nối cung - cầu.
Chính sách “mở đường” vì vậy không có nghĩa Nhà nước làm thay thị trường hay quyết định sản phẩm nào sẽ bán được. Giá trị của chính sách nằm ở việc tạo điều kiện để thị trường vận hành hiệu quả hơn: kết nối người bán với người mua, cung cấp tín hiệu thị trường, giảm những bất lợi trong tiếp cận kênh phân phối và hỗ trợ các chủ thể nâng năng lực đáp ứng.
Khi mục tiêu chuyển từ “có mặt tại sự kiện” sang “có đơn hàng”, từ “được giới thiệu” sang “được tái đặt hàng”, yêu cầu đối với cả cơ quan quản lý và chủ thể sản xuất cũng cao hơn. Nhưng chính sự chuyển đổi đó mới giúp nguồn lực hỗ trợ đi vào thực chất, góp phần tạo đầu ra ổn định và nâng giá trị thương mại cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bài: Gia Hân
Thiết kế: Quốc Duy
Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI
