[eMagazine] Tôm Việt tận dụng cơ hội mới tại thị trường EU
Ngoài những lợi ích cơ bản là cắt giảm mạnh về thuế quan theo lộ trình ngắn, với EVFTA, thủy sản Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh so với đối thủ chưa có Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU như Ấn Độ, Thái Lan… Thời gian qua, ưu đãi từ Hiệp định EVFTA đã được ngành hàng tôm tận dụng hiệu quả.
Theo cam kết của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), có khoảng 220 số dòng thuế các sản phẩm thủy sản có thuế suất cơ sở 0-22%; trong đó phần lớn thuế cao từ 6-22% được về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, số dòng thuế còn lại sẽ được cắt giảm về 0% theo lộ trình 3-7 năm.

Từ đầu năm 2025 tới nay, xuất khẩu nhóm hàng tôm của Việt Nam sang thị trường EU liên tục ghi nhận tăng trưởng. Gần đây nhất, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) dẫn số liệu của Hải quan Việt Nam cho biết, 9 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang EU đạt 434 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đặc biệt, xuất khẩu tôm trong tháng 9/2025 sang EU ghi nhận tăng trưởng mạnh 48%. Xuất khẩu sang cả 3 thị trường chính trong khối EU đều ghi nhận tăng trưởng 2 con số. Đà tăng trưởng này cho thấy EU tiếp tục là điểm tựa quan trọng cho ngành tôm Việt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt.
Về cơ cấu sản phẩm tôm xuất khẩu sang EU, tôm chân trắng chiếm tới 80% giá trị xuất khẩu. Tỷ trọng sản phẩm tôm giá trị gia tăng chiếm hơn 50% tổng kim ngạch tôm xuất khẩu vào khu vực này.
Đặc biệt, dòng sản phẩm chế biến khác (HS16) của Việt Nam tăng mạnh thời gian qua cho thấy EU đang có xu hướng mở rộng tiêu thụ các dòng tôm biển không truyền thống, đặc biệt là sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao - phù hợp với yêu cầu tiện lợi và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe tại khu vực này.


Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động và chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ, EU nổi lên như một điểm đến an toàn, ít rủi ro về chính sách. Các nhà xuất khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia đều đang dần chuyển dịch đơn hàng sang thị trường này. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế EU phục hồi sau đại dịch và kiểm soát lạm phát cũng là yếu tố thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng tăng. Nhu cầu nhập khẩu tôm của EU năm nay hướng tới kỷ lục mới, dự báo tiến sát mốc 400.000 tấn, mức cao chưa từng thấy trong nhiều năm, mở ra dư địa lớn cho các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, Pháp nổi lên với dự báo nhập khẩu khoảng 111.000 tấn năm 2025, gần bằng Tây Ban Nha (120.000 tấn). Đây là cơ hội cho Việt Nam tăng cường thâm nhập phân khúc bán lẻ và chuỗi nhà hàng tại khu vực Nam Âu.
Theo số liệu nhập khẩu tôm của EU, tổng nhập khẩu tôm trong 8 tháng đầu năm 2025 của EU đạt 289.142 tấn, trị giá 1,8 tỷ EUR, tăng lần lượt 19% và 24% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, trong tháng 8, mức tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại: sản lượng nhập khẩu chỉ tăng 6%, còn giá trị tăng 8%. Điều này phản ánh xu hướng bình ổn giá và thận trọng hơn trong tiêu thụ của các nhà nhập khẩu EU sau thời kỳ mua mạnh nửa đầu năm.




Trong cơ cấu sản phẩm tôm nhập khẩu của EU 8 tháng đầu năm nay, tôm đông lạnh nguyên liệu (raw frozen) vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với 252.789 tấn, trong khi tôm chế biến (value-added) mới đạt 36.353 tấn. Cả 2 nhóm sản phẩm này đều ghi nhận mức tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái. Dù tỷ trọng chưa lớn, nhưng tôm chế biến giá trị gia tăng là phân khúc đang được EU ưu tiên phát triển, mở ra cơ hội cho các nhà xuất khẩu có năng lực chế biến sâu, trong đó Việt Nam là một trong số ít đối tác châu Á có lợi thế rõ rệt ở mảng này.
Trong 8 tháng đầu năm 2025, Ecuador tiếp tục dẫn đầu nguồn cung tôm vào EU (160.139 tấn), tăng 36% so cùng kỳ nhờ lợi thế nuôi quy mô lớn, chi phí thấp, và chiến lược đẩy mạnh sản phẩm chế biến. Ấn Độ duy trì vị trí nguồn cung lớn thứ hai (36.880 tấn) với mức tăng 27%, mở rộng cả mảng hàng thô lẫn chế biến cơ bản. Trong khi đó, tôm Việt Nam xuất khẩu vào EU 8 tháng đạt 35.004 tấn, giữ vị trí thứ 3 trong số các nguồn cung lớn nhất; tuy tăng trưởng ổn định nhưng tốc độ thấp hơn, chủ yếu tập trung ở phân khúc chế biến giá trị gia tăng, chiếm hơn 50% tổng giá trị xuất khẩu tôm vào EU - một lợi thế lớn so với hai đối thủ trên.

Lợi thế đối với ngành hàng tôm Việt Nam tại EU, việc Việt Nam là một trong số ít quốc gia châu Á có Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) với EU giúp nhiều dòng sản phẩm tôm được hưởng thuế suất 0%. Bên cạnh đó, Việt Nam sở hữu hệ thống nhà máy chế biến đạt chuẩn châu Âu, nhiều cơ sở được cấp mã số xuất khẩu vào EU. Đây là nền tảng giúp tôm Việt Nam có thể đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các hệ thống siêu thị và kênh phân phối tại châu Âu.
Trong bối cảnh người tiêu dùng EU ngày càng quan tâm tới yếu tố bền vững, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải carbon, việc Việt Nam chuyển hướng mạnh sang nuôi công nghệ cao, đạt chứng nhận ASC, BAP hay GlobalGAP đang là “điểm cộng” lớn để duy trì thị phần và hình ảnh quốc gia cung ứng có trách nhiệm.
Bên cạnh những lợi thế là không ít thách thức. Về chính sách, nhiều quy định mới của EU đang khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động chuẩn bị để thích ứng. Ví dụ như yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chuỗi cung ứng theo các Chỉ thị Thẩm định chuỗi cung ứng của EU (CSDDD) hay Luật Thẩm định Chuỗi cung ứng (SCDDA) của Đức. Đây là những quy định buộc nhà nhập khẩu phải đảm bảo sản phẩm không gây hại môi trường, vi phạm lao động hoặc sử dụng nguồn nguyên liệu không minh bạch, trong đó, ngành thủy sản của Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng.
“Thẻ vàng” IUU của EU đối với hải sản khai thác Việt Nam, dù không trực tiếp liên quan đến tôm nuôi vẫn gây ảnh hưởng tâm lý nhất định tới nhà nhập khẩu, đòi hỏi toàn ngành thủy sản phải minh bạch hơn về nguồn gốc. Ngoài ra, nếu EU tiếp tục mở rộng các FTA mới với những đối thủ cạnh tranh của Việt Nam như Indonesia, Malaysia hoặc Thái Lan, lợi thế thuế quan của EVFTA sẽ bị thu hẹp đáng kể.



Về thị trường, sự bứt tốc của Ecuador và Ấn Độ thời gian qua khiến giá tôm trung bình nhập vào EU giảm trong một số tháng, gây sức ép lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp Việt Nam. Nếu xu hướng này kéo dài, Việt Nam phải củng cố vị thế ở phân khúc giá trị cao thay vì cạnh tranh thuần về giá. Ngoài ra, Ecuador còn tăng cường sản phẩm bóc vỏ và chế biến giá trị gia tăng, cạnh tranh vào phân khúc vốn là thế mạnh của Việt Nam.
Ấn Độ cũng chuyển hướng trọng tâm khai thác sang EU sau khi bị Hoa Kỳ áp thuế cao từ cuối tháng 8/2025. Tuy nhiên, rào cản lớn với Ấn Độ là quy định kiểm soát kháng sinh mới của EU có hiệu lực từ 3/9/2026. Đây có thể trở thành lợi thế cho tôm Việt trong giai đoạn hiện nay.

Để thúc đẩy xuất khẩu tôm, giữ vững và gia tăng thị phần tại EU, các chuyên gia khuyến nghị, các doanh nghiệp cần chuyển từ cạnh tranh giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, minh bạch và bền vững, đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt từ EU. Các nhà nhập khẩu ngày càng quan tâm đến tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng; các chứng nhận như ASC, hữu cơ, carbon-smart sẽ không chỉ là lợi thế mà dần trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận hệ thống bán lẻ tại thị trường này.
Mặt khác, EU có xu hướng ưu tiên sản phẩm chất lượng cao, đóng gói có thương hiệu, đặc biệt là các dòng tôm thẻ bóc vỏ, tôm sú nuôi tự nhiên, chứng nhận sinh thái. Madagascar là một ví dụ điển hình khi xây dựng được thương hiệu quốc gia cho tôm sú và bán giá cao tại thị trường Pháp. Do vậy, các doanh nghiệp Việt muốn gia tăng xuất khẩu vào thị trường EU cần phải có chiến lược tiếp thị rất cụ thể, giúp xây dựng hình ảnh thương hiệu cho sản phẩm của mình.
Song song đó, đa dạng hóa sản phẩm giá trị gia tăng (cooked-peeled, ring, tẩm ướp, chế biến sẵn) sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh tốt hơn với các “đối thủ” bởi phân khúc tôm chế biến cao cấp vẫn còn dư địa lớn, nhất là sản phẩm tiện lợi (ready-to-cook, ready-to-eat) phục vụ kênh bán lẻ và nhà hàng tại châu Âu - nhóm hàng có biên lợi nhuận tốt, ít chịu tác động từ giá hàng thô…

Bài: Thanh Hà
Ảnh: Hoàng Phương, Media Team
Thiết kế: Duy Kiên, Maika Lê
