Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Văn Tự: Ngành Công Thương đi trước mở đường hội nhập kinh tế, mở cửa thị trường
30/05/2026 lúc 12:32 (GMT)

Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Văn Tự: Ngành Công Thương đi trước mở đường hội nhập kinh tế, mở cửa thị trường

 

Kể từ khi chính thức ký gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006, kinh tế Việt Nam đã chuyển biến mạnh, từ nhập siêu sang xuất siêu bền vững. Đặc biệt, động lực tăng trưởng mạnh mẽ nhất đến từ mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do (FTA).

Trong hành trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, Bộ Công Thương giữ vai trò nòng cốt, là cơ quan chủ trì đàm phán, ký kết và tổ chức thực thi các FTA. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Truyền thống Ngành Công Thương, ông Lương Văn Tự, Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Thương mại), Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam gia nhập WTO đã dành cho phóng viên Tạp chí Công Thương cuộc trò chuyện về những dấu ấn hội nhập quốc tế nổi bật của ngành Công Thương. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

tít bài hội nhập

 

Phóng viên: Từ thời điểm gia nhập WTO tới nay, ngành Công Thương đã khai mở và ký kết thêm được nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, góp phần mở rộng thị trường, đưa hàng hóa Việt Nam đi khắp thế giới.

Là người chủ trì, tham gia những phiên đàm phán đa phương của Việt Nam từ những ngày đầu tiên, ông có thể đánh giá những dấu ấn mà ngành Công Thương chúng ta đã làm được trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế?

ÔNG LƯƠNG VĂN TỰ: Tính đến nay, chúng ta đã gia nhập WTO được 20 năm. Đây là một cuộc đàm phán lâu dài nhất trong lịch sử đàm phán của ngành thương mại Việt Nam với thời gian kéo dài (11 năm), số lượng nước phải đàm phán lớn (tới 149 nước và vùng lãnh thổ, trong đó bao gồm cả đàm phán đa phương và đàm phán song phương). Lúc đó, chúng ta buộc phải sửa hệ thống pháp luật, chuyển từ hệ thống pháp luật nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cho nên đây là một quá trình rất gay go, trong đó vấn đề “căng” nhất giữa chúng ta với họ lúc đó là sự khác nhau giữa hai hệ tư tưởng.

Với WTO, chúng ta mới có được thị trường toàn cầu, trước đó chúng ta chỉ có hiệp định song phương với từng nước một. Sau 10 năm sau gia nhập, Quốc hội đã đánh giá gia nhập WTO là một hiệp định rất quan trọng làm cơ sở cho tất cả các khuôn khổ hội nhập khác, trong đó có hội nhập về quốc phòng - an ninh, hội nhập về các lĩnh vực khác của chúng ta cũng mở ra được:
Thứ nhất, gia nhập WTO, thương mại của chúng ta được tăng tốc. Bây giờ chúng ta tính ra con số đó gấp hơn 10 lần so với thời điểm gia nhập WTO. Trước đó, xuất nhập khẩu của chúng ta mới có được khoảng mấy chục tỷ USD thôi, đến năm ngoái chúng ta đã đạt hơn 930 tỷ USD, năm nay tiếp tục phấn đấu tăng trưởng hai con số.
Thứ hai, gia nhập WTO thúc đẩy GDP của chúng ta tăng trưởng. Nếu GDP trước đó chỉ có khoảng hơn 600 USD/người/năm đã lên tới hơn 50.000 USD/người vào năm ngoái, như vậy là tăng hơn 15 lần.
Nếu xếp về quy mô nền kinh tế trên thế giới, chúng ta hiện đứng thứ 33. Trước khi đàm phám gia nhập WTO quy mô nền kinh tế của chúng ta chỉ thuộc nhóm cuối của thế giới, GDP bình quân đầu người khi bắt đầu đàm phán chỉ khoảng 400 USD/người/năm. Đến khi kết thúc đàm phán do chúng ta mở cửa đầu tư sớm thì GDP bình quân tăng lên được hơn 600 USD/người/năm. Lúc đó, chúng ta cũng mới thay đổi được tư duy của tất cả doanh nghiệp: thay vì doanh nghiệp trước đây dựa vào Nhà nước, khi gia nhập WTO, đa số doanh nghiệp tự lập phát triển lên, để đến giờ chúng ta đã có được một đội ngũ hơn 1 triệu doanh nghiệp.
Về đầu tư nước ngoài, trước đây lượng vốn đầu tư vào nước ta chỉ khoảng 5-6 tỷ USD, còn bây giờ đạt gần 500 tỷ USD.
Sau khi gia nhập WTO, chúng ta mới bắt đầu mở ra FTA khác với các đối tác lớn như EU, Á - Âu, RCEP, CPTPP, cùng với các FTA song phương khác. Tất cả các FTA này đều dựa trên nền của WTO.
Ví dụ, WTO cam kết thuế nhập khẩu trung bình giảm xuống còn 13,4% thì bây giờ các FTA có lộ trình giảm thuế xuống còn 0% - 5%. Khi mở ra được các khuôn khổ đó, chúng ta mới tăng trưởng nền kinh tế và quan trọng là chúng ta mới bắt tay được với tất cả các nước, hình thành các quan hệ Đối tác kinh tế, Đối tác chiến lược toàn diện.
Ví dụ như với đối tác kinh tế đầu tiên của chúng ta là Nhật Bản. Năm 2006 sau cuộc làm việc với Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), chúng tôi kiến nghị với Thủ tướng về việc đàm phán thiết lập quan hệ đối tác kinh tế với bạn. Đến nay, Nhật Bản trở thành một trong những đối tác lớn nhất của Việt Nam, với ODA chiếm quy mô lớn nhất, và thương mại ở vị trí Top 5 đối tác hàng đầu.
Lương Văn Tự

Ông Lương Văn Tự, Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Thương mại), Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam gia nhập WTO trao đổi với phóng viên về những dấu ấn hội nhập quốc tế nổi bật của ngành Công Thương. 

 
Phóng viên: Diễn biến thế giới thời gian qua cũng cho chúng ta thấy, càng hội nhập sâu rộng sẽ càng đối mặt nhiều khó khăn, thách thức từ thị trường toàn cầu, nhất là trước những biến động địa chính trị. Theo ông, kinh nghiệm nào để chúng ta vượt qua, xử lý những thách thức đó?
ÔNG LƯƠNG VĂN TỰ: Một trong những điểm thuận lợi quan trọng trong thời gian qua của chúng ta để giải quyết các thách thức, khó khăn trong bối cảnh biến động là chúng ta có quan hệ hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia với thị trường toàn cầu.
Thứ hai, chúng ta đã có thời gian dài cho doanh nghiệp Việt Nam trải nghiệm và mở rộng thị trường trong xu hướng đa phương, đa dạng hóa quan hệ nên chúng ta linh hoạt, xoay chuyển được tình thế.
Một điểm rất quan trọng, chính cách xử lý linh hoạt với các chính sách của Đảng và Chính phủ rất nhanh và quyết liệt, đặc biệt Bộ Công Thương đã chủ động xử lý, điều hành kịp thời. Nghị quyết 07 đầu tiên của Bộ Chính ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế mà chúng tôi trình kiến nghị chủ động hội nhập chứ không phải bị động. Có thể nói, thành công của chúng ta là từ chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong đó, Bộ Công Thương là Bộ chủ quản đã chủ động trong vấn đề thực hiện đàm phán rồi xoay chuyển, hỗ trợ cho các doanh nghiệp mở các thị trường mới.
Như việc chúng ta mở rộng, đa dạng hóa các thị trường sang tận châu Phi, Trung Đông, các nước khác như Bắc Âu chứ không phụ thuộc vào các thị trường truyền thống trước đây đã là một bước đa dạng hóa thị trường để chúng ta tồn tại.
Phóng viên: Có một thực tế, chúng ta vẫn phải “giằng co” trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là: một mặt chúng ta mở rộng thị trường cho doanh nghiệp; nhưng chính các doanh nghiệp trong nước chúng ta phải cạnh tranh với các đối tác FTA ngay tại sân nhà. Trong quá trình hội nhập trước đây chắc hẳn chúng ta đã phải đặt lên bàn đàm phán vấn đề này và đưa vào bối cảnh hiện nay, chúng ta cần giải quyết “nút thắt” này như thế nào?
ÔNG LƯƠNG VĂN TỰ: Với doanh nghiệp trong nước, khi bắt đầu hội nhập, nhiều doanh nghiệp lo ngại sẽ có hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé”. Đây là một thực tế, vì trên biển cả bao giờ cũng có cả cá lớn và cá bé, trên thế giới tỷ lệ doanh nghiệp đa quốc gia giàu có cũng chỉ chiếm mấy phần trăm thôi, còn đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về bản chất, các doanh nghiệp nước ngoài vì lợi ích kinh tế, khi không còn những lợi ích do các chính sách thuế mang lại thì họ sẽ dịch chuyển đi thị trường khác. Nghiên cứu kỹ các FTA, chúng ta biết các ưu đãi thuế không thể là ưu đãi vĩnh viễn, khi đạt đến một mức độ tỷ lệ nhất định rồi sẽ không còn ưu đãi nữa.
Vấn đề hiện nay là thị phần của doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu còn thấp, tùy từng lĩnh vực nhưng tính tổng thể chưa được 30%, trong khi thị phần của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Do vậy, vấn đề đặt ra trong chiến lược phát triển của ngành làm sao phải có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phù hợp với bối cảnh thế giới đang quay trở lại xu hướng bảo hộ.
Chúng ta cần có chính sách linh hoạt, khôn khéo trong xử lý vấn đề bảo vệ sản xuất trong nước để không vi phạm và ảnh hưởng tới các đối tác nước ngoài.
Với doanh nghiệp trong nước hiện nay của chúng ta, điểm yếu nhất là vốn, thứ hai là trình độ quản trị và thị trường, nhân lực, thứ ba mới đến công nghệ. Những điểm đó chúng ta có thể hỗ trợ doanh nghiệp không gây ảnh hưởng gì.
Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ của nhiều nước, hay xu hướng near-sourcing (đưa sản xuất về gần nơi tiêu thụ cuối cùng) đang được nổi lên tại các thị trường lớn. Bên cạnh đó, các đối tác FTA của chúng ta cũng tiếp tục đàm phán FTA với các đối tác tạo ra sự cạnh tranh hơn nữa. So với các nước bạn, mình đi trước họ về việc ký kết các FTA, tạo thuận lợi cho mở cửa thị trường. Chúng ta có lợi thế về kinh nghiệm, thị trường và bài học thực tiễn về FTA. Với những FTA mà bây giờ các nước mới bắt đầu đàm phán, ký kết thì mình phải theo dõi xem họ có mở cao hơn không, vì nếu họ mở cửa thị trường cao hơn là cạnh tranh với mình.
Nhưng chúng ta vẫn phải tính lại bài toán thích ứng cho các doanh nghiệp, đặc biệt Bộ Công Thương phải cùng với doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến để tính toán được những lợi thế mặt hàng và thị trường.
 
hội nhập
 
hội nhập

 

Phóng viên: Để thực hiện các mục tiêu của Đảng đặt ra, trong đó có duy trì tăng trưởng hai con số, công tác hội nhập và thực thi các FTA được xác định là một giải pháp, động lực quan trọng. Theo ông, chúng ta cần đổi mới công tác hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng nào?

ÔNG LƯƠNG VĂN TỰ: Tôi cho rằng, tăng trưởng thương mại hai con số hiện nay là mục tiêu đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, đặc biệt trong lĩnh vực hội nhập, xuất nhập khẩu. Thương mại phát triển đến mức độ nào đó sẽ chững lại nếu chúng ta không khai thác được mặt hàng mới, thị trường mới. Đó là quy luật. Bởi chúng ta muốn tăng trưởng nhưng kinh tế thế giới không tăng, nhu cầu hàng hóa của họ lại giảm đi…

Theo tôi, chúng ta cần quan tâm mấy giải pháp sau:

Thứ nhất, phải nâng giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu lên, đặc biệt là các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Ví dụ, nếu cứ xuất nguyên liệu cao su thì giá trị rất thấp nhưng nếu chuyển mạnh xuất khẩu các sản phẩm như lốp ô tô hoặc các sản phẩm cao su giá trị cao khác thì giá trị có thể cao gấp mấy lần. Hoặc với mặt hàng cà phê, lúa gạo, cần tăng năng suất và tăng giá trị gia tăng của sản phẩm. Ví dụ với gạo, nếu xuất khẩu gạo bình thường chỉ được khoảng hơn 500 USD/tấn, nhưng nếu là gạo hấp, gạo đồ thì giá xuất khẩu có thể lên đến 1.000 USD/tấn, hoặc nhóm mặt hàng tôm, cá hiện giờ bắt đầu xuất nhiều loại sản phẩm chế biến sẽ nâng được giá trị lên hoặc nước ta có nhiều loại nguyên liệu để làm thực phẩm, làm bánh, làm ra những loại đồ ăn sẵn cho các thị trường có nhu cầu cũng sẽ nâng giá trị gia tăng lên.

Thứ hai, chúng ta phải tính xem những thị trường nào có thể mở rộng, chẳng hạn thị trường châu Phi thì nhu cầu vô tận nhưng khả năng thanh toán có hạn và cũng rủi ro nữa. Bên cạnh đó, các ngành năng lượng, dầu khí của Việt Nam cần tăng cường năng lực khai thác và dự trữ trong nước, giảm nhập khẩu để hạn chế ảnh hưởng bởi biến động trên thị trường thế giới… Như vậy, chúng ta phải có chiến lược nhất quán và dài hơi. Nếu muốn thúc đẩy xuất khẩu thì phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp. Tôi cho rằng, năm nay xuất khẩu được hai con số và duy trì xuất siêu sẽ khó khăn nếu chúng ta không có những động lực tăng trưởng mới. Có thể nói những thuận lợi đã được khai thác gần hết, trong khi các nước khác đang đẩy nhanh đàm phán các FTA mới, tạo thêm áp lực cạnh tranh cho chúng ta.

Thứ ba, cần đàm phán, cân đối lại các thị trường truyền thống để họ có thể mở thêm dư địa thị trường cho mình; tức là song song với mở rộng các thị trường mới cần đàm phán với các đối tác cũ, nhất là các đối tác mà mình đang nhập siêu để mở rộng thêm thị trường cho hàng hóa.

Hơn nữa, công tác đàm phán phải tập trung mở thị trường cho các mặt hàng cụ thể có triển vọng, dư địa, chứ không đàm phán chung chung nữa. Ví dụ, mặt hàng A, mặt hàng B có khả năng sản xuất lớn mà nhu cầu thị trường có thì phải tập trung mở thị trường cho những mặt hàng đó. Hoặc dư địa sản xuất và nhu cầu của mặt hàng tôm còn lớn thì phải đàm phán mở thêm thị trường cho tôm, hàng thủ công mỹ nghệ thì mở ra thị trường như thế nào, rồi những mặt hàng đặc thù có giá trị cao như thị trường Halal, hay thị trường thực phẩm chế biến sẵn có tính tiện dụng cao…

Bên cạnh nỗ lực của ngành Công Thương, về phía góc độ Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, theo tôi để công tác hội nhập rộng mở hơn và hiệu quả thực chất hơn, cần tập trung công tác xúc tiến thương mại, tránh dàn trải giữa các Bộ, ngành như hiện nay. Mỗi bộ, ngành cần xác định nên tập trung vào phần việc, nhiệm vụ nào bởi nguồn lực có hạn, nếu không tập trung sẽ làm không hiệu quả.

Lương văn Tự 2

Ông Lương Văn Tự: Ngành Công Thương đóng góp rất lớn cho nền kinh tế và câu chuyện mở cửa thị trường. 

Phóng viên: Xin cảm ơn ông. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Truyền thống ngành Công Thương, là nguyên lãnh đạo Ngành, ông có những kỳ vọng và lời nhắn nhủ thế nào tới thế hệ con cháu của ngành Công Thương trong thời gian tới?

ÔNG LƯƠNG VĂN TỰ: Ngành Công Thương đóng góp rất lớn cho nền kinh tế và câu chuyện mở cửa thị trường. Trong quan hệ thế giới có những lúc người ta nói là ngoại giao đi trước, thương mại đi sau nhưng trên thực tế có những lĩnh vực, những thị trường là thương mại đi trước.

Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang trở lại với xu hướng bảo hộ, chỉ tính khuôn khổ WTO đã có thống kê trong những năm qua các nước thành viên đã dựng lên đến hơn 3.000 rào cản thương mại bằng các quy định kỹ thuật như xuất xứ, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường… Do đó ngành Công Thương phải kiên trì, nỗ lực hơn nữa và tiếp tục mở các kênh thương lượng đàm phán để mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước nói chung.

Phóng viên: Xin cảm ơn Nguyên Thứ trưởng về cuộc trò chuyện và kính chúc Ông thêm thật nhiều sức khỏe để tiếp tục tư vấn cho các thế hệ trẻ, cùng ngành Công Thương phát triển.

          

Bài: Việt Hằng
Ảnh: Ngọc Châm
Thiết kế: Duy Kiên