Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, kinh tế tuần hoàn trong ngành Giấy
Cùng với quá trình xanh hóa, xu hướng giảm tiêu thụ các sản phẩm bao bì từ nhựa, cho thấy cơ hội phát triển mạnh mẽ của các sản phẩm giấy bao bì, mở ra dư địa tăng trưởng lớn nhờ gắn liền với hoạt động xuất khẩu, logistics và thương mại điện tử. Việc hoàn thiện chính sách nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong tái chế giấy không chỉ giúp doanh nghiệp ngành Giấy gia tăng nguồn nguyên liệu mà còn thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, biến chất thải thành tài nguyên phục vụ sản xuất.
Trong những năm gần đây, Ngành Công nghiệp Giấy và Bột giấy Việt Nam (ngành Giấy) đã chứng kiến giai đoạn bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng năng lực sản xuất có thời điểm vượt ngưỡng 10%/năm. Từ sản phẩm tiêu dùng hằng ngày (giấy in, viết, khăn ăn, giấy ăn…) đến bao bì công nghiệp, đi cùng hoạt động thương mại điện tử, hàng hóa xuất khẩu, các sản phẩm từ giấy đã trở thành vật liệu thiết yếu trong nhiều lĩnh vực; giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế gắn liền với sản xuất, thương mại, logistics và xuất khẩu.
Số liệu tổng hợp từ Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA) cho thấy năm 2025 tổng sản lượng sản xuất giấy đạt 6,34 triệu tấn; tổng tiêu dùng giấy ước đạt 7,77 triệu tấn, tăng 10,8% so với năm 2024. Trong đó, giấy bao bì chiếm hơn 80% tổng sản lượng toàn Ngành. Mỗi năm, ngành Giấy vẫn phải nhập khẩu hơn 3,5 triệu tấn giấy phế liệu, để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngành Giấy là một trong những ngành có tiềm năng phát triển kinh tế tuần hoàn rõ nét nhất. Thực tế sợi giấy (cellulose) có đặc tính cơ lý rất tốt và có thể tái chế từ 5 đến 7 lần trước khi các sợi trở nên quá ngắn và yếu. Việc liên tục thu hồi và tuần hoàn nguồn tài nguyên này không chỉ kéo dài vòng đời của vật liệu, giúp giảm lượng rác thải phải chôn lấp và áp lực khai thác trực tiếp từ tự nhiên một cách đáng kể, góp phần tiết kiệm tài nguyên…đồng thời tạo việc làm cho mạng lưới lao động thu gom trong xã hội. Tái chế giấy còn thúc đẩy xu hướng tiêu dùng bền vững, hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đẩy nhanh chuyển dịch xanh tiến tới Net Zero (phát thải ròng bằng 0)…
Thực tế mỗi ngày tại Việt Nam, có một lượng lớn giấy phế liệu thải ra từ hộ gia đình, cửa hàng, siêu thị, kho vận và khu công nghiệp… được thu gom, phân loại, ép kiện rồi đưa về các nhà máy tái chế giấy trong nước. Từ những thùng carton, giấy văn phòng hay bao bì đã qua sử dụng, các cuộn giấy mới lại được sản xuất, tiếp tục phục vụ chuỗi sản xuất, thương mại và xuất khẩu. Không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường thời tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên từ hoạt động thu gom giấy đã qua sử dụng trong nước giúp các doanh nghiệp ngành Giấy tiết kiệm chi phí, chủ động nguyên liệu cho sản xuất...
Tuy nhiên khác với nhiều ngành công nghiệp khác, nguyên liệu thứ cấp đầu vào này của lĩnh vực giấy tái chế trong ngành Giấy không đến từ những nhà cung cấp lớn - có hệ thống hóa đơn, chứng từ đầy đủ. Số liệu từ VPPA cho thấy hiện giấy thu gom trong nước đã đạt được số lượng khá lớn, trên 3,5 triệu tấn/năm, tương đương trị giá lên tới 15 ngàn tỷ đồng. Trong đó nguồn cung từ nhóm cá nhân thu gom nhỏ lẻ hiện chiếm khoảng 50% tổng lượng nguyên liệu đầu vào, là mắt xích quan trọng, giúp nhiều nhà máy duy trì sản xuất ổn định. Tuy nhiên thực tế chuỗi thu gom giấy tái chế trong nước được hình thành chủ yếu từ mạng lưới thu gom phân tán trong xã hội, gồm người ve chai, đồng nát, cá nhân thu gom nhỏ lẻ, điểm tập kết, trạm ép, doanh nghiệp thương mại rồi mới đến nhà máy. Phần lớn nhóm người thu gom này không đăng ký kinh doanh, không xuất hóa đơn, nhiều người không có tài khoản ngân hàng và chủ yếu giao dịch bằng tiền mặt. Vì vậy, dù nguyên liệu và giao dịch là thật và hàng hóa (giấy phế liệu thu hồi) được đưa vào sản xuất thực tế, doanh nghiệp vẫn gặp phải rủi ro khi quyết toán thuế do thiếu hóa đơn đầu vào.
Những người thu gom đồng nát, phế liệu là mắt xích đầu tiên trong chuỗi kinh tế tuần hoàn của ngành giấy
Công ty Cổ phần HHP Global, cho biết doanh nghiệp hiện gặp nhiều vướng mắc ở khâu thu mua nguyên liệu giấy thu gom trong nước. Cụ thể ở hoạt động này với hàng nghìn giao dịch nhỏ lẻ mỗi ngày, việc hoàn thiện đầy đủ thông tin người bán, chứng từ và phương thức thanh toán tạo khối lượng kế toán rất lớn, không phù hợp với thực tế vận hành của Công ty.
Bên cạnh những khó khăn liên quan đến thu mua giấy phế liệu thu gom trong nước, theo VPPA, trong thu mua phế liệu thu gom trong nước hiện đang tồn tại những điểm bất hợp lý. Cụ thể, nếu người thu gom đăng ký hộ kinh doanh, họ phải nộp VAT trên doanh thu, khoản thuế này được cộng vào giá bán giấy phế liệu, khiến giá nguyên liệu đầu vào tăng. Tuy nhiên, doanh nghiệp mua lại nguồn phế liệu này không được khấu trừ VAT đầu vào, mà chỉ được tính vào giá thành sản xuất. Trong khi đó, theo quy định với phế liệu nhập khẩu, doanh nghiệp lại được khấu trừ VAT.
Thực tế số liệu cho thấy hiện tỷ lệ thu gom giấy phế liệu trong nước mới chỉ đạt khoảng gần 60% tổng lượng giấy tiêu dùng. Dù đã có sự cải thiện rõ rệt so với giai đoạn trước (vốn chỉ ở mức nghèo nàn khoảng 25%), nhưng tỷ lệ thu gom giấy phế liệu trong nước của Việt Nam hiện tại vẫn thấp hơn đáng kể so với các quốc gia trong khu vực như Nhật Bản (trên 80%), Hàn Quốc (gần 70%) hay Thái Lan (65%). Trong khi đó giấy phế liệu lại là nguồn nguyên liệu xương sống, chiếm đến gần 90% tổng lượng nguyên liệu đầu vào của lĩnh vực giấy bao bì, giấy làm thùng sóng - lĩnh vực chiếm hơn 80% năng lực sản xuất toàn ngành Giấy. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất Việt Nam buộc phải nhập khẩu hàng triệu tấn giấy phế liệu mỗi năm từ các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu để bù đắp khoảng trống hụt.
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất Việt Nam buộc phải nhập khẩu hàng triệu tấn giấy phế liệu mỗi năm.
Từ thực tế này, VPPA đề xuất cho phép doanh nghiệp được thực hiện cơ chế nộp thuế thay cho các cá nhân thu gom nhỏ lẻ; mức đề xuất là 1% thuế giá trị gia tăng và 0,5% thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời được tính khoản thuế nộp thay này vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế; được nộp luôn thuế VAT cho các hóa đơn mua giấy phế liệu trong nước thay cho các đơn vị xuất hóa đơn bán. Theo VPPA cơ chế này có thể mang lại lợi ích cho cả ba bên, trong đó doanh nghiệp có căn cứ pháp lý rõ ràng để hạch toán chi phí; cơ quan thuế vẫn quản lý được dòng giao dịch và có nguồn thu; người thu gom nhỏ lẻ không bị đẩy vào các thủ tục vượt quá khả năng tuân thủ. Đồng thời kiến nghị nghiên cứu áp dụng cơ chế thuế ưu đãi, tiến tới xem xét đưa hoạt động thu gom, phân loại giấy phế liệu vào diện không chịu thuế, để khuyến khích phát triển nguồn nguyên liệu trong nước và phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn.
Thực tế với mức ký quỹ ở mức tương đối cao như hiện hành đã tác động không nhỏ đến nguồn lực của các doanh nghiệp ngành Giấy làm giảm khả năng quay vòng vốn, nguồn lực quan trọng của các doanh nghiệp. Khi hàng nghìn tỷ đồng tiếp tục bị giữ lại ở dạng ký quỹ, doanh nghiệp tái chế giấy sẽ hao hụt nguồn lực để tái đầu tư mở rộng sản xuất, thậm chí có nguy cơ bị thu hẹp dư địa. Nhiều chuyên gia kinh tế cũng nhận định quy định này hiện chưa phản ánh chính xác mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp mà nên áp dụng phương án phân luồng; theo đó những đơn vị có lịch sử tuân thủ tốt, đầu tư nghiêm túc vào hệ thống bảo vệ môi trường thì được áp dụng cơ chế thuận lợi hơn, thay vì chịu cùng mặt bằng chi phí với doanh nghiệp có nguy cơ vi phạm.
Để tập trung nguồn lực cho các doanh nghiệp, VPPA đề xuất giảm tỷ lệ ký quỹ xuống mức 5% giá trị lô hàng phế liệu nhập khẩu; đồng thời, áp dụng cơ chế quản lý theo luồng căn cứ trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Cụ thể tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tuân thủ tốt (miễn ký quỹ, áp dụng hậu kiểm), đồng thời xử phạt nặng với các doanh nghiệp vi phạm (bị tạm dừng hoặc thu hồi giấy phép nhập khẩu). Điều này vừa đảm bảo hiệu quả quản lý môi trường, khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ tốt, vừa giảm gánh nặng thủ tục, tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thực tế những biến động kinh tế, địa chính trị thời gian qua cùng với quá trình xanh hóa …thúc đẩy xu hướng giảm tiêu thụ các sản phẩm nhựa, bao bì từ nhựa, tiền đề quan trọng cho việc dịch chuyển sang các sản phẩm bao bì thân thiện môi trường như bao bì giấy. Bối cảnh này cho thấy dư địa tăng trưởng phát triển mạnh mẽ cho ngành Giấy đặc biệt là giấy bao bì. Việc hoàn thiện chính sách về thuế, hóa đơn và ký quỹ không chỉ là tháo gỡ khó khăn mà còn tạo thêm nguồn lực giúp các doanh nghiệp ngành Giấy thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, biến chất thải thành tài nguyên đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam.