Từ đẩy lùi “giặc đói” đến chiến thắng Điện Biên Phủ: Dấu ấn Bộ Công Thương trên mặt trận kinh tế
31/05/2026 lúc 14:48 (GMT)

Từ đẩy lùi “giặc đói” đến chiến thắng Điện Biên Phủ: Dấu ấn Bộ Công Thương trên mặt trận kinh tế

 

Từ những quyết sách kịp thời trong buổi đầu độc lập, một nền kinh tế kháng chiến tự lực, tự cường đã từng bước hình thành, trở thành hậu phương vững chắc, bảo đảm sức người, sức của cho tiền tuyến và góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

CHIẾN THẮNG "GIẶC ĐÓI"

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, “chống giặc đói” được xác định là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, trong bối cảnh nạn đói vừa cướp đi sinh mạng của hai triệu đồng bào vẫn có nguy cơ tái diễn với mức độ trầm trọng hơn.

Trên mặt trận này, Bộ Kinh tế Quốc gia (tiền thân của Bộ Công Thương) giữ vai trò nòng cốt, triển khai loạt giải pháp cấp bách trên cả ba phương diện: thương mại, vận tải, và sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, Bộ thành lập Nha Nông - Mục - Thủy - Lâm, bao gồm các đơn vị chuyên môn như Viện Khảo cứu Canh nông, Sở Khuyến nông, Sở Khẩn hoang và di dân, Sở Xã dân công tác, Túc mễ cục, và Ty nông học. Thông qua hệ thống này, Bộ tập trung đẩy mạnh khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, tổ chức điều phối thu mua và phân phối thóc gạo, đồng thời hỗ trợ người dân di cư đến các vùng đất mới để ổn định đời sống và tăng gia sản xuất.

Cùng với đó, mọi rào cản đối với lưu thông lương thực giữa các vùng miền được bãi bỏ, tạo điều kiện để các chuyến vận chuyển gạo cứu đói từ Nam Bộ và Trung Bộ ra Bắc Bộ diễn ra khẩn trương, liên tục. Bộ cũng nghiêm cấm xuất khẩu ngũ cốc, cấm nấu rượu từ lương thực và xử lý mạnh tay đối với các hành vi đầu cơ, tích trữ. Song song, các cơ sở sản xuất được huy động cấp tốc chế tạo nông cụ và cung ứng cho nông dân không tính lãi, giúp khôi phục sản xuất trong thời gian ngắn nhất.

Ảnh 1: Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp của Bộ Quốc dân Kinh tế  - Việt Nam Dân quốc Công báo, số 9, ngày 17/11/1945. (Nguồn: Thư viện Quốc gia Việt Nam)

Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp của Bộ Quốc dân Kinh tế  - Việt Nam Dân quốc Công báo, số 9, ngày 17/11/1945. (Nguồn: Thư viện Quốc gia Việt Nam).

Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, hàng nghìn tấn gạo đã được phân phối kịp thời tới các địa phương ở Bắc Bộ, bất chấp nhiều khó khăn do thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Sản lượng thóc vụ Chiêm (11/1945 - 5/1946) đã đủ bù đắp được số lượng thiếu hụt của cả vụ Mùa năm 1945. Dân đủ ăn, giá thóc gạo giảm, giặc đói bị đánh lui!

Trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”. Không chỉ cứu sống hàng triệu người dân, thắng lợi này còn có ý nghĩa sống còn với nền độc lập non trẻ, củng cố niềm tin của đồng bào quốc dân đối với chính quyền cách mạng.

Song song với cuộc chiến chống giặc đói, công cuộc khôi phục sản xuất công nghiệp cũng gấp rút được triển khai. Sau nhiều năm chiến tranh, nhiều cơ sở sản xuất chỉ còn hoạt động ở mức 10 - 20% công suất. Bộ Kinh tế Quốc gia đã khẩn trương tổ chức sửa chữa, khôi phục các cơ sở sản xuất quan trọng, điều phối nguyên vật liệu thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng.

Cùng với đó, nhiều chính sách thông thoáng được ban hành nhằm khuyến khích sản xuất, kinh doanh, như xóa bỏ các hình thức độc quyền của chính quyền thuộc địa, cho phép tự do thành lập cơ sở sản xuất... Các nhà tư sản dân tộc được khuyến khích nhanh chóng đưa máy móc hoạt động trở lại, trong khi giới tư bản nước ngoài cũng được tạo điều kiện duy trì kinh doanh.

Ảnh 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ giới Công Thương Hà Nội tại Bắc Bộ Phủ năm 1945. (Nguồn: Tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ giới Công Thương Hà Nội tại Bắc Bộ Phủ năm 1945. (Nguồn: Tư liệu)

 

CHUẨN BỊ THỰC LỰC CHO TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN

Sớm nhận thấy nguy cơ thực dân Pháp leo thang chiến tranh, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Kinh tế (tên gọi mới của Bộ Kinh tế Quốc gia từ tháng 3/1946) phối hợp với các đơn vị lập kế hoạch xây dựng hậu phương, sẵn sàng cho một cuộc chiến gian khổ, kéo dài. Các đoàn công tác được cử đi khảo sát kỹ tình hình kinh tế tại những địa bàn dự kiến xây dựng căn cứ địa và vùng kháng chiến, nhằm đánh giá khả năng tự cấp tự túc và huy động các nguồn lực cần thiết.

Đồng thời, Bộ Kinh tế được giao phối hợp phát triển công nghiệp quốc phòng, trưng dụng các nhà máy để hoạt động lưỡng dụng, vừa phục vụ sản xuất dân sự, vừa đáp ứng nhu cầu quốc phòng.

Song song với đó, một cuộc tổng di chuyển được triển khai, máy móc, thiết bị, vật tư quan trọng từ các trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn - Chợ Lớn… được bí mật tháo gỡ, di chuyển về các khu căn cứ. Công tác này được tính toán kỹ lưỡng để vẫn đảm bảo duy trì sản xuất đến phút cuối cùng.

Chỉ bằng sức người và các phương tiện thô sơ, trong chưa đầy một năm, gần 40.000 tấn máy móc, vật tư đã được vận chuyển an toàn về các vùng rừng núi. Riêng tại Bắc Bộ, gần hai phần ba thiết bị của các xí nghiệp được di dời thành công. Nhờ đó, ngay sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), 57 cơ sở sản xuất đã đi vào hoạt động tại các căn cứ kháng chiến, đặt nền móng cho một nền công nghiệp đặc biệt - nền công nghiệp kháng chiến. Tiêu biểu là Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, nơi đã chế tạo thành công nhiều loại máy công cụ và vũ khí hạng nặng như Bazooka, đạn SKZ.

Giữa núi rừng đại ngàn, những nhà xưởng lợp tre nứa, những máy móc vận hành bằng động cơ cải tiến từ đầu máy xe lửa, ô tô cũ ngày đêm sản xuất giấy, vải, hóa chất, sửa chữa cơ khí, chế tạo vũ khí… Những cơ sở công nghiệp này góp phần quan trọng củng cố hậu phương, bảo đảm nguồn lực cho tiền tuyến, khẳng định ý chí tự lực, tự cường và năng lực sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam.

Ảnh 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng công binh tại Chiến khu Việt Bắc, tháng 02/1951. (Nguồn: Tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng công binh tại Chiến khu Việt Bắc, tháng 02/1951. (Nguồn: Tư liệu)

 

BÌNH ỔN GIÁ - MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp không chỉ diễn ra trên tiền tuyến với tiếng bom đạn khốc liệt mà còn có một cuộc đấu tranh cam go, thầm lặng nhưng quyết định không kém tại hậu phương: Cuộc chiến bình ổn giá.

Trên mặt trận đặc biệt này, Bộ Kinh tế (Bộ Công Thương từ năm 1951) giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức lưu thông hàng hóa, khai thác triệt để mọi nguồn lực ở cả vùng tự do lẫn vùng tạm bị địch chiếm theo hướng  “nuôi ta, làm yếu địch”.

Trong thế “cài răng lược” giữa vùng tự do và vùng địch tạm chiến, địch tìm mọi cách ngăn chặn nguồn cung hàng hóa vào vùng tự do cũng như thực hiện các hoạt động phá hoại kinh tế. Đáp lại, Bộ Kinh tế xây dựng hệ thống mậu dịch quốc doanh, vận hành dựa trên sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước và quy luật thị trường.

Đặc biệt, thay vì trực tiếp tổ chức bán lẻ trên diện rộng, hệ thống mậu dịch tập trung cung ứng các mặt hàng thiết yếu như gạo, muối, vải… cho thương nhân, tận dụng mạng lưới phân phối sẵn có của các thương nhân để đưa hàng hóa đến khắp các địa phương. Ngược lại, thương nhân cũng là “cánh tay nối dài” của mậu dịch khi đứng ra xuất bán những mặt hàng lâm, thổ sản vào vùng tạm bị địch chiếm; đồng thời, thu mua các vật tư, hàng thiết yếu từ vùng địch kiểm soát để đưa vào vùng tự do.

Với phương châm xuyên suốt là “nắm hàng chính, nắm thị trường chính, nắm bán buôn là chính”, hệ thống mậu dịch vừa tận dụng được mạng lưới buôn bán sẵn có trong dân, vừa kiểm soát được các luồng hàng chiến lược, bảo đảm lưu thông thông suốt và huy động tối đa nguồn lực cho kháng chiến.

Không chỉ tổ chức lưu thông hàng hóa, Bộ Kinh tế còn khéo léo khai thác những bất cập trong chính sách kinh tế của địch để mở rộng quy mô thu mua hàng hóa từ vùng tạm chiếm, bổ sung kịp thời vật tư, hàng thiết yếu cho sản xuất và quốc phòng. Toàn bộ quá trình này được kiểm soát chặt chẽ, vừa tận dụng hiệu quả các kẽ hở của đối phương, vừa ngăn chặn các âm mưu đầu cơ, phá hoại kinh tế.

Nhờ những biện pháp đồng bộ đó, tốc độ tăng giá hàng hóa được kiểm soát ngày càng hiệu quả. Nếu năm 1951 giá cả tăng gấp 3,6 lần so với năm trước, thì đến năm 1953 mức tăng chỉ còn 1,17 lần; và năm 1954, chỉ số giá đã giảm xuống còn 0,97 lần so với năm 1953.

Ảnh 4: Lực lượng dân công hỏa tuyến vận chuyển hàng hóa trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 (Nguồn: Tư liệu)

Lực lượng dân công hỏa tuyến vận chuyển hàng hóa trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 (Nguồn: Tư liệu)

Trên phương diện quốc phòng, hiệu quả về cơ chế điều hành này được Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng việt Châu ghi lại qua công tác chuẩn bị hậu cần cho Chiến dịch Điện Biên Phủ: “Chỉ trong thời gian ngắn khoảng 6 - 7 tháng, một số lượng hàng cần thiết khá lớn gồm hàng triệu thước vải, hàng vạn buộc sợi, hàng chục vạn hộp sữa, hàng vạn thùng dầu, 6 - 7.000 xe đạp, hàng vạn săm lốp và quý nhất là hàng chục tấn thuốc tây đủ các loại từ thuốc kháng sinh đến thuốc sốt rét, kiết lỵ và vitamin. Cả muối và gạo cũng bắt đầu rút được từ vùng địch ra, giảm nhẹ được một phần gánh nặng vận tải từ liên Khu IV lên Việt Bắc”.

Có thể nói, trong muôn vàn khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã xây dựng được một nền kinh tế kháng chiến, tự lực, tự cường thực sự đúng nghĩa. Những thắng lợi trong chống giặc đói, xây dựng hệ thống sản xuất kháng chiến, bảo đảm cung ứng, bình ổn giá… không chỉ được đo đếm qua các con số thống kê, mà còn được thể hiện qua niềm tin, sự đồng lòng của quốc dân đồng bào đối với Đảng và Chính phủ cách mạng. Chính nền kinh tế kháng chiến ấy đã tạo nên hậu phương vững chắc, giúp sức người, sức của được huy động tối đa cho tiền tuyến, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thực hiện: DUY QUANG