Lịch sử hình thành và phát triển của các tập đoàn trên thế giới có từ hàng trăm năm nay. Tùy theo các nước khác nhau, những tổ hợp kinh doanh lớn được gọi theo những tên khác nhau, như ở Đức, Pháp, Mỹ gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group ..., ở Nhật Bản là Zaibatsu, Keiretsu ..., ở Hàn Quốc là Chaebol..., ở Việt Nam, lúc đầu là Liên hiệp các xí nghiệp, các Tổng Công ty và hiện nay đang trong quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế.    

Các tập đoàn kinh doanh trên thế giới có những đặc trưng chung sau đây:

- Tập đoàn kinh doanh có quy mô về tài chính rất lớn, phạm vi hoạt động rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, mà mở rộng ra phạm vi toàn cầu, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của tập đoàn và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn.

- Về mặt tổ chức, tập đoàn kinh doanh là hình thức liên kết của nhiều công ty hoạt động trong cùng một ngành, hay những ngành khác nhau trong một nước hay nhiều nước, thông qua sự điều hành chung.  

Trong thực tiễn, các tập đoàn kinh doanh trên thế giới thường áp dụng những mô hình quản trị điều hành cơ bản sau đây :

+  Mô hình “kim tự tháp”, về thể chế quản lý tập trung quyền lực theo chiều dọc, trực tuyến.

+ Mô hình “mạng lưới” (đa trung tâm), về thể chế quản lý phân tán quyền lực cho các bộ phận chi nhánh.

+ Mô hình “hỗn hợp” (nhị nguyên), về thể chế quản lý phối hợp giữa tập trung và phân tán quyền lực.

Sau đây xin giới thiệu một số mô hình cơ cấu tổ chức quản lý tập đoàn của một số nước tiêu biểu :

Mô hình của Mỹ

Là mô hình thống nhất ngang, có những đặc trưng sau :

- Có Hội đồng giám đốc, bao gồm nhiều giám đốc phụ trách theo các tiêu thức khác nhau về khách hàng, khu vực, bộ phận ...

- Chú trọng đến lợi ích chủ đầu tư và có quan tâm bổ sung thêm lợi ích người lao động .  

-  Mức độ luật định thấp .

- Chính phủ duy trì môi trường ổn định để các thị trường tự do hoạt động, tuy nhiên là “tự do nằm trong khuôn khổ”

- Công đoàn tham gia tự nguyện, nhỏ và yếu .

-  Việc trả cổ tức cá nhân được ưu tiên hàng đầu khi công ty phá sản .

- Quyền của người lao động bị hạn chế, hầu như không được tham gia điều hành hoạt động công ty .

-  Vai trò của ngân hàng hạn chế trong việc sở hữu và kiểm soát công ty.

- Thị trường chứng khoán có vai trò rất lớn trong việc cung cấp vốn và giám sát hoạt động của công ty.

Mô hình của Nhật Bản

Là mô hình thống nhất ngang mở rộng, có những đặc trưng sau :

- Thành lập Ban giám đốc và có ủy ban quản lý .

- Lợi ích của gia đình lên trên hết .

- Mức độ luật định trung bình .

- Chính phủ can thiệp mạnh vào nền kinh tế, thực thi chính sách ủng hộ và định hướng phát triển, quan chức Chính phủ và giới kinh doanh có mối liên hệ chặt chẽ .

- Công đoàn hoạt động yếu và chịu ảnh hưởng của giới chính trị.

- Các cổ đông có vai trò ngang nhau.

- Người lao động có nhiều ảnh hưởng bởi họ làm việc lâu dài và gắn bó với công ty .

- Vai trò của ngân hàng quan trọng trong việc cung cấp tài chính, nhưng trong việc quản lý công ty chỉ giữ vai trò thứ yếu.

- Thị trường chứng khoán không giữ vai trò chính yếu.

Mô hình của Trung Quốc

Là mô hình tách rời ngang, có những đặc trưng sau :

- Thành lập Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban giám sát (là “ba hội mới”), xử lý hài hòa mối quan hệ giữa “ba hội mới” và “ba hội cũ” (ba hội cũ là Ban chấp hành Đảng bộ, Ban chấp hành công đoàn và Đại hội công nhân viên chức). Hội nghị trung ương 4 khóa XV năm 1999 quy định: Bí thư  Đảng ủy và Chủ tịch Hội đồng quản trị do một người đảm nhiệm, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc về nguyên tắc phải riêng biệt .

- Chính phủ phi tập trung hóa quyền lực, xóa bỏ sự can thiệp thái quá của Nhà nước, hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường định hướng XHCN mang mầu sắc Trung Quốc.

Mô hình của CHLB Đức

Là loại mô hình tách rời ngang, có những đặc trưng sau:

- Thành lập Hội đồng quản trị và Ban điều hành; có sự phân biệt tách rời giữa Hội đồng quản trị và Ban điều hành với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.

- Chú trọng đến lợi ích của cả hai phía chủ đầu tư và người lao động.

- Thực hiện nguyên tắc bỏ phiếu và biểu quyết của cả Hội đồng quản trị và Ban điều hành.

- Mức độ luật định cao.

- Chính phủ điều tiết, duy trì độc quyền một số dịch vụ công ích .

- Các công đoàn lớn và tập trung hóa, có sức mạnh.

- Ngân hàng và các tổ chức tài chính chiếm sở hữu đa số, quyền sở hữu tập trung, việc chi trả cổ tức ít được ưu tiên.

- Quyền của người lao động có nhiều ảnh hưởng thông qua công đoàn hay Hội đồng công nhân qua quy định được quyền tham gia và quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.

- Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp tài chính và kiểm soát công ty.

- Thị trường chứng khoán bị điều tiết mạnh và có vai trò không lớn.

Mô hình của Thụy Sĩ

Là mô hình thống nhất dọc, có những nét đặc trưng sau:

- Chỉ có Hội đồng quản lý, và việc quản lý điều hành tập đoàn tập trung vào người đại diện Hội đồng quản lý.

- Chú trọng đến lợi ích chủ đầu tư.  

- Mức độ luật định trung bình.  

Trong thực tiễn, các tập đoàn phát triển không theo một mô hình thể chế cứng nhắc hoặc một khuôn mẫu cố định nào, mà nó thay đổi linh hoạt dựa trên nhu cầu phát triển của tập đoàn theo từng giai đoạn. Cách đây một vài thập kỷ, các tập đoàn Mỹ còn học hỏi văn hóa quản lý của người Nhật, giờ đây họ lại coi nó là nguyên nhân gây ra sự chậm phát triển. Các tập đoàn Đức thường được ca ngợi bởi cấu trúc chặt chẽ, tính pháp luật cao, thì nay bị phê phán là không thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Các Cheabol (Hàn Quốc) còn được coi là sự kết hợp hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường, thì sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã bộc lộ những yếu kém về quản lý tập đoàn theo hình thức gia đình trị, cơ chế quản lý tài chính lỏng lẻo, dẫn đến thất thoát lớn về tài chính. Các tập đoàn của Mỹ hiện nay đang thắng thế và có khả năng trở thành khuôn mẫu cho các nước phát triển.

Để bạn đọc hiểu sâu sắc hơn, xin giới thiệu mô hình tổ chức và quản lý của một số tập đoàn mạnh trên thế giới.

Tập đoàn Viễn thông Nhật Bản (NTT)

Tập đoàn NTT là một tổ hợp bao gồm một công ty mẹ và nhiều công ty con, công ty cháu.  ở đây, không hình thành pháp nhân “Tập đoàn NTT”, không có bộ máy quản lý điều hành riêng. Công ty mẹ sử dụng bộ máy điều hành của mình để thực hiện chức năng của công ty mẹ đối với các công ty con và với tập đoàn.

Công ty mẹ do Bộ Tài chính nắm 46% vốn và nắm giữ 60-100% vốn của các công ty con. Hiện nay, Tập đoàn có 30 công ty con, với sự góp 60 đến 100% vốn của công ty mẹ. Công ty cháu là công ty do công ty con nắm giữ trên 50% vốn. Về nguyên tắc thì công ty con không được phép đầu tư ngược trở lại công ty mẹ, công ty cháu không được đầu tư ngược trở lại công ty mẹ và công ty con.

Chỉ có những loại công ty kể trên mới được coi là thành viên của tập đoàn NTT. Công ty liên kết là những công ty mà các công ty thành viên của NTT nắm giữ từ 20% đến 50% vốn.

Quan hệ giữa các công ty đều thông qua các hợp đồng, bao gồm các hợp đồng về kinh doanh và đóng góp vào nghiên cứu phát triển.

Tập đoàn Petronas 

Tập đoàn Petronas bao gồm:

. Công ty dầu khí quốc gia Malaysia (Petronas) hoạt động theo Luật Dầu khí năm 1994, đồng thời là Holding Company (công ty mẹ).

. Các công ty thành viên hoạt động theo Luật công ty năm 1965.

Công ty Petronas chịu sự kiểm tra và chỉ đạo của Tập đoàn Petronas gồm:

- Đơn vị thành viên 100% cổ phần của Công ty Petronas, gồm 55 đơn vị trong đó có 27 công ty hoạt động trong nước và 28 công ty hoạt động ở nước ngoài.

- Đơn vị thành viên với cổ phần của Petronas lớn hơn hoặc bằng 51%, gồm 27 công ty hoạt động ở trong nước, và 1 công ty hoạt động ở nước ngoài. Ngoài ra, Petronas còn có cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng 50% ở 39 đơn vị liên doanh khác, trong đó 29 công ty hoạt động ở trong nước và 11 công ty hoạt động ở nước ngoài.       

Về quản lý trong Tập đoàn thì trừ quan hệ giữa công ty Petronas và Petronas Carigali trong thăm dò và khai thác dầu khí là quan hệ giữa công ty dầu quốc gia với công ty nhà thầu, hoạt động phù hợp với hợp đồng PSC đã được các bên ký kết và chiểu theo Luật Dầu khí. Còn lại, trong kinh doanh, Công ty Petronas và các công ty thành viên đều hoạt động theo Luật Công ty ban hành năm 1965, và về mặt pháp lý, các công ty thành viên đều có quyền bình đẳng với nhau và với công ty mẹ.

Tập đoàn Honda 

Tập đoàn Honda được thành lập năm 1948 và là một tập đoàn tư nhân. Công ty mẹ không trực tiếp kinh doanh mà chỉ trực tiếp nắm giữ vốn đầu tư vào các công ty con, chỉ đạo phối hợp các công ty con trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo các khu vực (chia thành 5 khu vực và lãnh thổ trên toàn thế giới), và nghiên cứu phát triển.

Công ty con là công ty có từ 50 đến 100% vốn tham gia của công ty mẹ. Công ty liên kết có từ 20 đến 50% vốn của công ty mẹ tham gia.

ở nước ta, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa IX ) đã quyết định: “ Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh”. Như vậy, thực hiện Nghị quyết của Đảng, nước ta sẽ hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước.

Chúng ta khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới trong việc xây dựng các tập đoàn kinh tế, song cũng không thể rập khuôn máy móc theo bất cứ mô hình nào; mà cần chủ động, linh hoạt vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của đất nước; tranh thủ tận dụng những tri thức tiên tiến nhất trong xu thế hội nhập, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững theo định hướng XHCN.