Ngày 11/2/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2011/NĐ-CP về an toàn công trình dầu khí trên đất liền.

Nghị định gồm 8 chương, 37 điều, quy định về an toàn các công trình dầu khí trên đất liền (các công trình tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí; công trình khí; công trình dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ; nhà máy chế biến, nhà máy lọc hóa dầu; công trình dầu khí) kể cả các đảo, phạm vi cảng biển, sông, ngòi nhưng không bao gồm các công trình dầu khí ngoài khơi để đảm bảo an toàn cho con người, xã hội, môi trường và tài sản. Nghị định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có hoạt động liên quan đến công trình dầu khí. 

Nghị định số 13/2011/NĐ-CP thay thế Nghị định số 10/CP ngày 17/02/1993 về việc ban hành quy định về bảo vệ an toàn các công trình xăng dầu; Nghị định số 47/1999/NĐ-CP ngày 05/7/1999 về việc sửa đổi, bổ sung quy định về bảo vệ an toàn các công trình xăng dầu, ban hành kèm theo Nghị định số 10/CP ngày 17/02/1993. Những quy định pháp luật trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. 

(Nguồn: Công báo số 103 + 104, ngày 24/02/2011)

Ngày 29/3/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Nghị định gồm 8 chương, 36 điều, quy định về thống kê về sử dụng năng lượng; cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng; biện pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; kiểm tra, thanh tra về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 

Đối tượng áp dụng của Nghị định là tổ chức, cá nhân sử dụng năng lượng tại Việt Nam. 

Về sử dụng năng lượng, Nghị định quy định: Chỉ tiêu thống kê về sử dụng năng lượng; trách nhiệm thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin thống kê về sử dụng năng lượng; tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu năng lượng quốc gia. Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm gồm các vấn đề: Xác định cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; danh sách cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; mô hình quản lý năng lượng; kiểm toán năng lượng; kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gồm: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; mua sắm phương tiện, thiết bị của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; báo cáo sử dụng năng lượng của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. 

Việc dán nhãn năng lượng cho phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng gồm: Dán nhãn năng lượng; phân loại nhãn năng lượng; phòng thử nghiệm hiệu suất năng lượng; hồ sơ đăng ký dán nhãn năng lượng và thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị; thực hiện dán nhãn năng lượng; đình chỉ việc dán nhãn năng lượng và thu hồi Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng; báo cáo của các cơ sở sản xuất phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng; báo cáo của các doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng; kiểm tra, báo cáo việc thực hiện dán nhãn năng lượng; phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ. 

Các biện pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gồm: Áp dụng các biện pháp quản lý và công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; kiểm toán năng lượng và báo cáo tình hình sử dụng năng lượng tại các cơ sở không thuộc Danh mục cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; ưu đãi đầu tư; hỗ trợ đối với hoạt động sản xuất, nhập khẩu phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng; phương tiện thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo và kiểm toán năng lượng; và nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Thông tư còn đề cập về việc nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, gồm: Nội dung kiểm tra, thanh tra về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; quyền hạn và trách nhiệm về kiểm tra, thanh tra sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 

(Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

Ngày 14/6/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương.

Theo Nghị định, Bộ Công Thương có 37 đơn vị, thêm một đơn vị mới là Cục Hóa chất, đồng thời Vụ Năng lượng sẽ được thay đổi thành Tổng cục Năng lượng. Cục Hóa chất, Tổng cục Năng lượng là các tổ chức giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước. 

(Nguồn: Công báo số 381 + 382, ngày 27/6/2011)

Ngày 27/10/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định gồm 8 chương, 37 điều, quy định về bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; hợp đồng giao kết với người tiêu dùng và điều kiện giao dịch chung; giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh và quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định áp dụng đối với người tiêu dùng; tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Nghị định quy định chi tiết về: Bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; hợp đồng giao kết với người tiêu dùng và điều kiện giao dịch chung; giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh; quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 

Theo Nghị định, Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Trung ương. Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại địa phương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa phương. Sở Công Thương là cơ quan giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đơn vị giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn huyện mình. 

(Nguồn: Công báo số 573 + 574, ngày 06/11/2011)

Ngày 16/11/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu.

Nghị định gồm 4 chương, 34 điều, quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu. Nghị định áp dụng với cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Về hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức phạt, Nghị định (các điều 5-27) quy định cụ thể về: 1) Vi phạm về giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu; 2) Vi phạm về điều kiện kinh doanh xăng dầu (Vi phạm về điều kiện: kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu; sản xuất xăng dầu; kinh doanh của tổng đại lý kinh doanh xăng dầu; kinh doanh của đại lý bán lẻ xăng dầu; kinh doanh của cửa hàng bán lẻ xăng dầu; kinh doanh dịch vụ xăng dầu); 3) Vi phạm quy định về giá bán xăng dầu (Vi phạm về: niêm yết giá bán và giá bán lẻ xăng dầu; quy trình điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân đầu mối); 4) Vi phạm quy định về đo lường, chất lượng xăng dầu (Vi phạm về: sử dụng phương tiện đo lường trong kinh doanh xăng dầu; chất lượng xăng dầu lưu thông trên thị trường); 5) Vi phạm quy định khác về kinh doanh xăng dầu (đăng ký hệ thống phân phối; đối tượng mua, bán xăng dầu; giao, nhận tổng đại lý, đại lý kinh doanh xăng dầu; chuyển tải, sang mạn xăng dầu; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu…). 

Từ Điều 28 đến Điều 32, quy định về thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu gồm: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân; và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan quản lý thị trường. 

(Nguồn: Công báo số 605 + 606, ngày 29/11/2011)

Ngày 16/11/2011

Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng. 

Nghị định gồm 4 chương, 38 điều, quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (gọi tắt là LPG). Nghị định áp dụng với cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính về kinh doanh LPG trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về kinh doanh LPG trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Về hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, Nghị định quy định chi tiết về: 1) Vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh LPG; 2) Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động kinh doanh của thương nhân kinh doanh LPG đầu mối; 3) Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động kinh doanh của tổng đại lý, đại lý kinh doanh LPG và cửa hàng bán LPG chai; 4) Hành vi vi phạm quy định về nạp, cấp LPG; 5) Hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh của thương nhân kinh doanh dịch vụ LPG; 6) Hành vi vi phạm quy định về sản xuất, sửa chữa, kiểm định chai LPG; 7) Hành vi vi phạm quy định về chai LPG và LPG chai. 

Nghị định quy định cụ thể về: thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành vi vi phạm hành chính về kinh doanh LPG (gồm: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân, của cơ quan quản lý thị trường, của cơ quan công an, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, thanh tra chuyên ngành); nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt và ủy quyền xử phạt thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt. 

(Nguồn: Công báo số 605 + 606, ngày 29/11/2011)