- Nhóm nguyên nhân bất khả kháng xuất phát từ yếu tố địa hình và cấu tạo địa chất của khoáng sàng, ví dụ như phần trữ lượng than nằm ở khu vực có phay phá, túi nước, túi khí, dưới sông, hồ, công trình... hoặc phân tán dưới dạng các vỉa kẹp, vỉa quá mỏng phải để lại không thể khai thác được.

- Nhóm nguyên nhân công nghệ kỹ thuật xuất phát từ bản chất hoặc yêu cầu của hệ thống và công nghệ khai thác nhằm đảm bảo an toàn lao động như để trụ bảo vệ, để lại lớp vách bảo vệ, tổn thất trong quá trình phá hỏa,...

- Nhóm nguyên nhân kinh tế chẳng hạn do than chất lượng thấp (dẫn đến giá bán thấp), chi phí khai thác cao...

Trong phạm vi bài này, tác giả chỉ bàn về phương pháp xác định giá trị thiệt hại kinh tế của tổn thất than trong quá trình khai thác.

1. Khái niệm và nội dung giá trị thiệt hại kinh tế của tổn thất than

Việc khai thác than nhằm phục vụ nhu cầu của nền kinh tế và đem lại nhiều lợi ích, bao gồm các lợi ích: Tài chính, kinh tế, xã hội. Các lợi ích đó có thể tính được và không tính được bằng tiền. Nếu than không khai thác ra được thì có nghĩa là làm mất đi các lợi ích vốn có của nó. Như vậy, có thể nói, thiệt hại gây ra do tổn thất than trong quá trình khai thác chính là các lợi ích bị mất đi do không khai thác được phần than bị tổn thất đó. Giá trị thiệt hại kinh tế của tổn thất than chính là các thiệt hại có thể tính được bằng tiền.

Thiệt hại kinh tế của tổn thất than gồm có hai phần: Giá trị kinh tế của phần than tổn thất; Giá trị thiệt hại do giảm tuổi thọ của mỏ bởi tổn thất than gây ra.

Để xác định được giá trị kinh tế của phần than tổn thất, trước hết cần làm rõ nội dung các lợi ích của sản phẩm than như sau:

- Lợi ích tài chính: Là lợi ích mà sản phẩm than đem lại với tư cách là một hàng hóa bán đi để lấy tiền và thu lợi nhuận. Vì than có thể xuất khẩu nên còn có lợi ích là thu ngoại tệ. Thông thường, lợi ích tài chính có thể xác định theo giá thị trường.

- Lợi ích kinh tế: Là lợi ích mà sản phẩm than đem lại với tư cách là nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế và các khoản đóng góp cho nền kinh tế. Lợi ích này được xác định trên phạm vi nền kinh tế.

- Lợi ích xã hội: Là lợi ích mà sản phẩm than đem lại với tư cách là đối tượng của quá trình sản xuất như tạo ra việc làm, thu nhập cho người lao động...

Tùy theo phạm vi phát sinh, các lợi ích nêu trên lại được phân ra lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp. Lợi ích trực tiếp là lợi ích phát sinh ngay trong doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp than; còn lợi ích gián tiếp là lợi ích phát sinh trong các ngành liên quan đến quá trình sản xuất và sử dụng than, tức là các ngành cung cấp đầu vào cho sản xuất than và các ngành sử dụng đầu ra của sản xuất than.

Các đối tượng hưởng thụ khác nhau thì sẽ có lợi ích khác nhau do sản phẩm than mang lại; và do đó thiệt hại kinh tế do phần than bị tổn thất cũng sẽ khác nhau đối với từng đối tượng hưởng thụ khác nhau.

a. Đối với người lao động: Lợi ích do sản phẩm than mang lại cho họ là đơn giá tiền lương trên 1 tấn than đã giao khoán. Nếu đơn giá tiền lương khá hấp dẫn thì họ sẽ cố gắng tối đa để tận thu than, thậm chí bất chấp cả nguy hiểm đến tính mạng. Nếu không khai thác được thì họ sẽ không được hưởng lương. Như vậy, giá trị thiệt hại kinh tế do tổn thất than gây ra đối với người lao động là phần tiền lương bị mất đi do phần than không lấy ra được. Để nâng cao hệ số thu hồi than, vấn đề đặt ra ở đây là chính sách tiền lương có hấp dẫn và hợp lý hay không, kèm theo đó là biện pháp đảm bảo an toàn lao động, nhất là biện pháp ngăn chặn công nhân “làm liều” do đơn giá tiền lương hấp dẫn.

b. Đối với công ty, xí nghiệp trực tiếp khai thác than: Lợi ích do sản phẩm than mang lại cho họ là giá bán 1 tấn than theo quy định trong nội bộ TVN. Như vậy, thiệt hại kinh tế do tổn thất than gây ra đối với công ty, xí nghiệp là phần doanh thu than theo giá nội bộ bị mất đi do phần than để lại trong lòng đất. Hệ số thu hồi than sẽ phụ thuộc vào mức giá than quy định nội bộ có hợp lý hay không. Về nguyên tắc, doanh nghiệp sẽ bỏ lại phần trữ lượng than có chi phí khai thác cao hơn mức giá bán, tức là chấp nhận chịu thiệt hại; ngược lại, nếu có mức giá bán nội bộ thỏa đáng thì họ sẽ cố gắng lấy được nhiều than hơn. Điều đó tuỳ thuộc vào TVN trong việc quy định chính sách giá than nội bộ.

c. Đối Tập đoàn Than Việt Nam: Lợi ích do sản phẩm than mang lại là giá bán 1 tấn than theo giá thị trường (gtt). Như vậy, thiệt hại kinh tế do tổn thất than gây ra đối với TVN là phần doanh thu than theo giá thị trường bị mất đi do phần than để lại trong lòng đất. Hệ số thu hồi than sẽ phụ thuộc vào mức giá than trên thị trường và chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Về nguyên tắc, TVN sẽ bỏ lại phần trữ lượng than có chi phí khai thác cao hơn giá bán, tức là chấp nhận chịu thiệt hại; ngược lại, nếu có chính sách khuyến khích thỏa đáng đối với việc nâng cao hệ số thu hồi than thì họ sẽ cố gắng lấy được nhiều than hơn.

d. Đối với nền kinh tế: Là tổng hợp các lợi ích tài chính - kinh tế - xã hội mà sản phẩm than mang lại cho nền kinh tế. Như vậy, thiệt hại do tổn thất than gây ra đối với nền kinh tế là sự mất đi các lợi ích của phần than để lại trong lòng đất. Về nguyên tắc, Nhà nước sẽ chấp nhận để lại phần trữ lượng than có chi phí khai thác cao hơn giá trị kinh tế mà chúng đem lại cho nền kinh tế nếu khai thác được, tức là chấp nhận chịu thiệt hại.

2. Phương pháp luận xác định giá trị kinh tế của than

Để xác định được giá trị kinh tế của một tấn than đối với nền kinh tế trình tự các bước như sau:

Xác định giá đích thực (hợp lý) của 1 tấn than.

Xác định giá trị gia tăng do 1 tấn than tạo ra trong các ngành sử dụng than và các ngành cung cấp đầu vào cho sản xuất than trong nền kinh tế.

Xác định giá trị tạo việc làm và thu nhập cho người lao động.

Xác định giá trị các lợi ích khác mà tấn than đem lại cho nền kinh tế.

Tổng cộng các giá trị nêu trên sẽ được giá trị kinh tế của 1 tấn than đối với nền kinh tế, so sánh giá trị đó với chi phí khai thác 1 tấn than: Nếu lớn hơn thì việc khai thác tấn than đó vẫn có lợi đối với nền kinh tế, nếu nhỏ hơn thì ngược lại.

2.1. Phương pháp luận xác định giá than

Đây là một vấn đề phức tạp nên nguyên tắc chung là: Nếu là nước không thể xuất khẩu than thì giá than hợp lý là chi phí biên dài hạn (LRMC); Nước có thể xuất khẩu than thì giá than hợp lý là giá xuất khẩu; Nếu là nước nhập khẩu than thì giá than hợp lý là giá nhập khẩu; Trong trường hợp là nước có cả xuất khẩu và nhập khẩu than thì lấy theo khả năng có thể xảy ra nhất đối với loại than đó.

2.2. Phương pháp luận xác định các giá trị khác của than đối với nền kinh tế

a/ Xác định giá trị gia tăng do 1 tấn than tạo ra trong các ngành sử dụng theo trình tự như sau:

- Xác định danh mục các ngành sử dụng than (i);

- Xác định giá trị gia tăng của từng ngành (VAi);

- Xác định tổng sản lượng than tiêu dùng trong các ngành (T);

- Xác định tỉ trọng chi phí than trong giá thành sản phẩm của từng ngành (zi);

Giá trị gia tăng (VAtri) do sản phẩm than tạo ra trong ngành (i) là:

VAtri    =   VAi   x   zi

Tổng giá trị gia tăng (VAtr) do sản phẩm than tạo ra trong các ngành là:

VAtr    =   ồVAti

Giá trị gia tăng (vat) do 1 tấn than tạo ra trong các ngành là:

vatr      = VAtr/T

b/ Xác định giá trị gia tăng do 1 tấn than tạo ra trong các ngành cung cấp đầu vào cho sản xuất than theo trình tự như sau:

- Xác định danh mục các ngành cung cấp đầu vào cho sản xuất than (j);

- Xác định giá trị gia tăng của từng ngành (VAj);

- Xác định tỉ trọng sản lượng sản phẩm của từng ngành dùng cho sản xuất than (sj);

- Xác định tổng sản lượng than khai thác trong năm (St);

Giá trị gia tăng (VAtvj) do sản phẩm than tạo ra trong ngành (j) là: VAtvj    =   VAj   x   sj

Tổng giá trị gia tăng (VAtv) do sản phẩm than tạo ra trong các ngành là: VAtv    =   ồVAtvi

Giá trị gia tăng (vat) do 1 tấn than tạo ra trong các ngành là:

vatv      = VAtv/St

c/ Xác định giá trị tạo việc làm và thu nhập cho người lao động:

Về nguyên tắc, phương pháp xác định giá trị tạo việc làm và thu nhập cho người lao động của sản xuất than được xác định trên cơ sở giả định rằng trữ lượng than hết phải đóng cửa mỏ, khi đó nền kinh tế phải: Đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất mới để tạo việc làm mới bù vào số việc làm mất đi do đóng cửa mỏ; hỗ trợ chi phí đào tạo lại để tìm việc làm mới; hoặc, trợ cấp thất nghiệp cho những người không thể tìm được việc mới; hỗ trợ để giải quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến đóng cửa mỏ.

Tổng các chi phí nêu trên chia cho sản lượng than hàng năm, ta sẽ được giá trị tạo việc làm của 1 tấn than. Để đơn giản hoá vấn đề chi phí tạo việc làm và thu nhập cho người lao động có thể được xác định bằng chi phí cơ hội của tiền lương, tức là số tiền lương bị mất đi do đóng cửa mỏ. Như vậy, giá trị của 1 tấn than chính là đơn giá tiền lương (bao gồm cả các loại chi phí bảo hiểm) trên 1 tấn than.

d/ Xác định giá trị các lợi ích khác mà tấn than đem lại cho nền kinh tế.

Một trong những lợi ích quan trọng của việc khai thác than trong nước là đảm bảo cung cấp than cho các nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế một cách chủ động, ổn định, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, tránh được các bất ổn hoặc khủng hoảng trên thị trường quốc tế... Ví dụ: Vừa qua nhu cầu than và giá than trên thị trường thế giới tăng cao, nhưng giá than trong nước vẫn giữ ổn định ở mức thấp và nhu cầu than vẫn được đáp ứng đủ, đảm bảo cho các ngành sử dụng than hoạt động bình thường. Việc định giá các lợi ích này là rất khó. Tuy nhiên có thể ước tính giá trị này thông qua xác định một tỉ lệ rủi ro nào đó đối với các ngành sử dụng than, nếu như không có nguồn than trong nước với những lợi thế, bằng cách; nhân tỉ lệ rủi ro với doanh thu của các ngành sử dụng than ta sẽ được giá trị thiệt hại kinh tế. Chia giá trị thiệt hại đó cho sản lượng than hàng năm sẽ được giá trị các lợi ích khác đã nêu trên của 1 tấn than.

Tổng cộng các giá trị a, b, c và d sẽ là giá trị kinh tế của 1 tấn than đối với nền kinh tế, ký hiệu là Gktt.

3. Phương pháp luận giá trị thiệt hại do giảm tuổi thọ của mỏ bởi tổn thất than gây ra

Do tổn thất than nên tuổi thọ của mỏ đang hoạt động sẽ bị rút ngắn. Để tiếp tục có than cung cấp cho nền kinh tế đòi hỏi không những phải đầu tư sớm mà còn với suất đầu tư cao hơn (bao gồm cả thăm dò) để xây dựng và khai thác mỏ mới có điều kiện khó khăn hơn mỏ cũ. Hơn nữa, tại mỏ cũ nhiều tài sản còn dùng được nhưng phải bỏ đi do kết thúc khai thác sớm hơn.

Trên cơ sở đó, có thể xác định giá trị thiệt hại kinh tế do giảm tuổi thọ của mỏ bởi tổn thất than gây ra gồm có:

a. Chi phí tăng thêm do phải đầu tư sớm để xây dựng mỏ mới vì phải kết thúc sớm việc khai thác ở mỏ cũ (trả lãi vay vốn đầu tư), được xác định theo công thức sau:  

DSI  =  SI0  -  SIt  =  SI0  -  SI0 (1 + r)-t  =  SIo (1 – at)

Trong đó: DSI là suất đầu tư tăng thêm trên 1 tấn than;  SIo và SIt: suất đầu tư trên 1 tấn than tại thời điểm to và t;  r = tỉ suất chiết khấu; (1 + r)-t  =  at: là hệ số chiết khấu.

b. Các chi phí phát sinh do di chuyển địa điểm đến mỏ mới như di chuyển chỗ ở, đưa đón công nhân đi làm, vận chuyển vật tư xa hơn... được tính cho 1 tấn than.

c. Thiệt hại do ngừng sử dụng các tài sản còn dùng được ở mỏ cũ tính cho 1 tấn than.

Tổng cộng các giá trị thiệt hại a, b, c sẽ là giá trị thiệt hại kinh tế (Gktm) do giảm tuổi thọ của mỏ bởi tổn thất than gây ra tính cho 1 tấn than. Cộng giá trị kinh tế của 1 tấn than (Gktt) và giá trị thiệt hại Gktm sẽ là giá trị thiệt hại kinh tế do tổn thất than trong quá trình khai thác gây ra đối với nền kinh tế tính cho 1 tấn than.

Trên cơ sở phương pháp luận nêu trên, căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật hiện hành của ngành than và các ngành liên quan cũng như mặt bằng giá hiện nay, đề tài: “Nghiên cứu xác định giá trị thiệt hại kinh tế của tổn thất than, đề xuất biện pháp chính sách khuyến khích nâng cao hệ số thu hồi tận thu tối đa tài nguyên than” do Viện Khoa học công nghệ mỏ thực hiện và Bộ Công nghiệp quản lý nghiệm thu năm 2005 đã tính toán được giá trị kinh tế của 1 tấn than đối với nền kinh tế nước ta trong trường hợp xuất khẩu than là 74,5 USD/T và trong trường hợp nhập khẩu than là 104,5 USD/T.  Và đó cũng chính là giá trị thiệt hại kinh tế của 1 tấn than tổn thất trong quá trình khai thác đối với nền kinh tế.